Các học giả quốc tế khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam

05:42 |
Chiều 20/6, Hội thảo “Hoàng Sa – Trường Sa: Sự thật lịch sử” đã bế mạc. Nhiều học giả quốc tế một lần nữa khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt

Thông cáo báo chí từ Ban tổ chức Hội thảo “Hoàng Sa – Trường Sa: Sự thật lịch sử” cho biết: Đã có 21 tham luận được trình bày tại Hội thảo cùng hàng chục ý kiến thảo luận trong hai phiên và bốn phần thảo luận. Các đại biểu tham dự hội thảo đã tập trung thảo luận về các nội dung chính bao gồm: vị trí và tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; thực tế tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo và các tác động của nó đối với hòa bình và ổn định khu vực châu Á-Thái Bình Dương; luật pháp quốc tế về việc xác lập chủ quyền và giải quyết tranh chấp lãnh thổ; việc xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các thời kỳ; triển vọng, giải pháp giải quyết tranh chấp hai quần đảo.
Hội thảo "Hoàng Sa - Trường Sa: Sự thật lịch sử".
Hội thảo "Hoàng Sa - Trường Sa: Sự thật lịch sử".
Các học giả quốc tế Dmitry Mosyakov (Nga), K.Raja Reddy (Ấn Độ), Jean-Pierre Ferrier (Pháp) đã đề cập đến các tư liệu pháp lý lịch sử khẳng định các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền hòa bình, liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: các Châu bản triều Nguyễn; các sách Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục viết về hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải thực hiện lệnh của Nhà vua đi khai thác và quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…
Các học giả nhấn mạnh, dưới thời Pháp thuộc, Pháp đã nhân danh Việt Nam thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khi rút khỏi Việt Nam, Pháp bàn giao quyền quản lý hai quần đảo này cho Việt Nam; các tư liệu pháp lý lịch sử cho thấy Việt Nam đã chiếm hữu “hiệu quả, liên tục và lâu dài” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các ý kiến cũng cho rằng Trung Quốc không có bất cứ bằng chứng thuyết phục nào chứng minh Trung Quốc chiếm hữu hai quần đảo này trước khi dùng vũ lực đánh chiếm phi pháp quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một số bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988.
Các học giả phê phán chiến lược và hành động trên Biển Đông với mức độ ngày càng gia tăng của Trung Quốc.
Chuyên gia Bộ Quốc phòng Pháp chuyên sâu về vấn đề Biển Đông, Tướng Daniel Schaeffer đã phê phán mạnh mẽ tính phi lý “đường lưỡi bò”, cho rằng Trung Quốc đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” không kèm theo bất cứ lời giải thích nào nên hoàn toàn không có giá trị.
Trong thời gian qua, Trung Quốc đã ráo riết hiện thực hóa yêu sách phi lý “đường lưỡi bò” bằng các hành động xâm phạm chủ quyền các nước Philippin, Việt Nam, Malaysia. Theo chuyên gia này, vấn đề “đường lưỡi bò” không thuộc trách nhiệm của riêng nước nào trong khu vực mà là của cả cộng đồng quốc tế; cần phải đạt được sự đồng thuận quốc tế để yêu cầu Trung Quốc từ bỏ yêu sách “đường lưỡi bò”.
Các ý kiến tại Hội thảo cho rằng hành động của Trung Quốc sử dụng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và chiếm đóng bất hợp pháp một số bãi ở quần đảo Trường Sa năm 1988 là vi phạm luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; đồng hợp nhấn mạnh hành động xâm chiếm bằng vũ lực không thể tạo ra chủ quyền.
Các ý kiến tại Hội thảo cho rằng hành động của Trung Quốc sử dụng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và chiếm đóng bất hợp pháp một số bãi ở quần đảo Trường Sa năm 1988 là vi phạm luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; đồng hợp nhấn mạnh hành động xâm chiếm bằng vũ lực không thể tạo ra chủ quyền.
Tại Hội thảo, các đại biểu nhất trí rằng, việc căn cứ vào những chứng cứ pháp lý, lịch sử dựa trên luật pháp quốc tế về quyền thụ đắc lãnh thổ để giải quyết tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì hòa bình, ổn định, đảm bảo tự do, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông. Những hành động sử dụng sức mạnh cố ý phá vỡ nguyên trạng, gây bất ổn khu vực, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ nước khác nhằm thực hiện ý đồ độc chiếm Biển Đông của bất kỳ bên nào đều không thể chấp nhận.
Các ý kiến tại Hội thảo cho rằng hành động của Trung Quốc sử dụng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và chiếm đóng bất hợp pháp một số bãi ở quần đảo Trường Sa năm 1988 là vi phạm luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; đồng hợp nhấn mạnh hành động xâm chiếm bằng vũ lực không thể tạo ra chủ quyền.
Nhiều học giả đã lên tiếng phê phán hành động Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, nhất là các hành động bạo lực của các tàu Trung Quốc đâm va, phun vòi rồng công suất lớn vào các tàu dân sự của Việt Nam đang thực thi nhiệm vụ trên biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, đâm chìm tàu cá Việt Nam. Để duy trì hoà bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, các bên liên quan cần kiềm chế, tăng cường xây dựng lòng tin, không có những hành động đơn phương, phá vỡ nguyên trạng.
Các học giả kêu gọi Trung Quốc sớm cùng với các nước ASEAN xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) với tính ràng buộc cao để ngăn ngừa những hành động leo thang, gây căng thẳng ở Biển Đông.
Nhiều ý kiến tại Hội thảo cho rằng các nước đang tranh chấp cần coi trọng hơn các công cụ pháp lý và cơ chế trọng tài quốc tế theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam có thể sử dụng công cụ pháp lý thông qua Toà Trọng tài theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để bảo vệ các quyền lợi và lợi ích của mình trước hành vi xâm lấn của Trung Quốc ở Biển Đông.
Giáo sư Jerome Cohen - Chủ tịch Viện luật pháp Hoa Kỳ - Châu Á, đề xuất Việt Nam có thể tham gia vụ kiện với Philippin hoặc tự khởi kiện Trung Quốc, và khuyến nghị các nước liên quan nên tận dụng sự trợ giúp của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) hay hệ thống thể chế pháp lý của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.
Giáo sư Jerome Cohen - Chủ tịch Viện luật pháp Hoa Kỳ - Châu Á, đề xuất Việt Nam có thể tham gia vụ kiện với Philippin hoặc tự khởi kiện Trung Quốc, và khuyến nghị các nước liên quan nên tận dụng sự trợ giúp của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) hay hệ thống thể chế pháp lý của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.
  1. Theo Giáo sư Jerome Cohen – Chủ tịch Viện luật pháp Hoa Kỳ – Châu Á, đề xuất Việt Nam có thể tham gia vụ kiện với Philippin hoặc tự khởi kiện Trung Quốc, và khuyến nghị các nước liên quan nên tận dụng sự trợ giúp của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) hay hệ thống thể chế pháp lý của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.

Ông Cohen nhấn mạnh việc Việt Nam sử dụng cơ chế tài phán quốc tế chứng tỏ cố gắng của Việt Nam tận dụng mọi biện pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Tuy sử dụng công cụ pháp lý là phức tạp và đi kèm với những rủi ro nhưng đối với các nước nhỏ thì việc sử dụng pháp lý là cơ hội để bảo vệ các lợi ích của mình phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế và Hiến chương của Liên hợp quốc.

Nói về vấn đề khởi kiện Trung Quốc, chiều 20/6, trao đổi bên hành lang với phóng viên quốc tế và Việt Nam, Giáo sư Erik Franckx (Đại học Tự do Brussel – Bỉ, Thành viên Tòa trọng tài thường trực), đề xuất Việt Nam có thể chọn như Philippines đó là vấn đề đường 9 đoạn, tức là yêu cầu Trung Quốc định nghĩa rõ ràng về đường 9 đoạn.
Theo ông Franckx dù có kết quả như thế nào, kể cả kết quả xấu nhất (là khi đó tòa nói là không đủ thẩm quyền để giải quyết vấn đề này) thì cũng là một quá trình tập hợp lại để nói cho mọi người biết đây là cái quan điểm của tôi và đó là lãnh thổ của tôi. Ông khẳng định, dù sao đó cũng là một cơ hội để trình bày quan điểm chứ không ai có thể đoán trước được.
Nói về vấn đề một mặt Trung Quốc đưa các vấn đề vừa rồi ra đại hội đồng các nước thành viên LHQ về việc tranh chấp với VN nhưng một mặt vẫn phủ nhận vai trò của luật pháp quốc tế, vai trò của trọng tài quốc tế. Ông Franckx cho rằng có hai khía cạnh đó là Trung Quốc muốn thể hiện lòng tin của mình đối với cộng đồng quốc tế nên cũng trình bày vụ việc của mình trước cộng đồng quốc tế và Trung Quốc không hề muốn vụ việc này có bên thứ ba.
Ông Franckx khẳng định các biện pháp pháp lý vẫn là biện pháp hòa bình và đó là biện pháp văn minh.
Giáo sư Erik Franckx (Đại học Tự do Brussel - Bỉ, Thành viên Tòa trọng tài thường trực), đề xuất Việt Nam có thể chọn như Philippines đó là vấn đề đường 9 đoạn, tức là yêu cầu Trung Quốc định nghĩa rõ ràng về đường 9 đoạn.
Giáo sư Erik Franckx (Đại học Tự do Brussel - Bỉ, Thành viên Tòa trọng tài thường trực), đề xuất Việt Nam có thể chọn như Philippines đó là vấn đề đường 9 đoạn, tức là yêu cầu Trung Quốc định nghĩa rõ ràng về đường 9 đoạn.
Trong lúc đó, Giáo sư Jerome Cohen, cho biết thêm: Với tư cách là một công dân Mỹ, ông nói rằng Chính phủ Mỹ cần phải có thái độ tích cực hơn và ông thấy việc đầu tiên mà ông muốn làm và nói với bạn bè là yêu cầu Chính phủ Mỹ phải ký vào Công ước về Luật biển.
“Mỹ không thể nói các bên cứ tuân thủ như thế này thế kia trong khi chính mình lại chưa ký vào Công ước về Luật biển. Có nghĩa là “không thể bắt mọi người làm theo cái tôi nói mà không nhìn vào cái tôi làm”. Tôi muốn một trong những di sản để lại của Tổng thống Obama là nên ký Công ước về Luật biển. Một khi đã ký rồi thì sẽ đưa ra trọng tài và các bên có trách nhiệm phải tuân thủ”, Giáo sư Jerome Cohen trao đổi với các phóng viên trong nước và quốc tế và ông cũng khẳng định lại thông điệp chính của mình là vẫn coi trọng các biện pháp hòa bình.
(Theo Giáo Dục)

Việt Nam phản đối Trung Quốc đưa “đường lưỡi bò” vào hộ chiếu

22:59 |
(TNO) Đây là tuyên bố được Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đưa ra tại cuộc họp báo tổ chức chiều nay (22.11) tại Hà Nội.

Theo báo chí Trung Quốc (TQ), kể từ 15.5.2012, TQ bắt đầu cho cấp phát loại hộ chiếu mới áp dụng công nghệ cao, trong đó có gắn chip điện tử có lưu dấu vân tay, chữ ký và ảnh của người được cấp.

Cũng trong loại hộ chiếu mới này, TQ đã đưa vào bản đồ của mình, trong đó có in hình đường 9 đoạn (đường lưỡi bò).

Đây là một trong những động thái mới của TQ nhằm tiếp tục tuyên truyền và quảng bá cho yêu sách "độc chiếm Biển Đông" của mình.

Đường lưỡi bò được TQ chính thức đưa ra Liên Hiệp Quốc vào tháng 5.2009, trong đó yêu sách gần như chiếm toàn bộ diện tích biển Đông.

Theo ông Lương Thanh Nghị, việc làm trên của phía TQ đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan ở biển Đông.

Ông Lương Thanh Nghị cho biết đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Bộ Ngoại giao TQ tại Hà Nội để trao công hàm phản đối và yêu cầu phía TQ hủy bỏ những nội dung sai trái in trong hộ chiếu điện tử nêu trên.

Trong một động thái tương tự, hôm nay Bộ Ngoại giao Philippines cũng đã chính thức phản đối hành vi này của Trung Quốc.

ASEAN tham vấn giải quyết đa phương vấn đề Biển Đông

Cũng tại cuộc họp báo thường kỳ, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc các quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở biển Đông thuộc khối ASEAN sẽ có một cuộc gặp tại Philippines để bàn về vấn đề này, ông Lương Thanh Nghị cho biết Việt Nam đã được phía Philippines thông báo về vấn đề này và hiện đang chờ thư mời chính thức, trong đó thống nhất về nội dung, cách thức tổ chức và thời gian của cuộc gặp.

Theo hãng tin AFP, ngày 21.11, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho biết Philippines sẽ tổ chức các cuộc đàm phán cấp thứ trưởng Ngoại giao bàn về tranh chấp trên biển Đông với các nước Brunei, Malaysia và Việt Nam vào ngày 12.12 tại Manila.

Theo ông Rosario đây là một trong những giải pháp để đưa vấn đề tranh chấp biển Đông đi đến một giải pháp hòa bình bằng con đường đa phương. Trước đó, tại Hội nghị cấp cao ASEAN tại Phnom Penh (Campuchia), Tổng thống Philippines Benigno Aquino cũng đã thẳng thừng bác bỏ tuyên bố của Thủ tướng Campuchia Hun Sen cho rằng các nước ASEAN đã thống nhất không “quốc tế hóa” tranh chấp biển Đông.

Theo ông Lương Thanh Nghị, việc tham vấn giữa các quốc gia ASEAN về vấn đề biển Đông là việc làm bình thường và thường xuyên để thúc đẩy việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở biển Đông cũng như thúc đẩy việc giải quyết hòa bình các tranh chấp ở biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) 1982 và các thỏa thuận, cam kết đã có như Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) 2002, Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về vấn đề biển Đông” và mới đây là Tuyên bố chung kỷ niệm 10 năm DOC.



Nguyên Phong

Đường lưỡi bò 'bò' ở đâu ra?

21:38 |
Tư liệu trong suốt chiều dài “lịch sử” kéo từ thời Tần, Hán cho đến sau Thế chiến thứ II (1945), Trung Quốc chưa bao giờ đưa ra được những chứng cứ có thể chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong phần đất của họ.   

Nguồn : Báo Đất Việt
Trung Quốc cũng luôn tuyên bố có chứng cứ đầy đủ về “đường lưỡi bò” hay còn gọi là đường chín đoạn của mình là hợp lý, song sự thật trớ trêu ẩn chứa trong chính sử sách của nước này cho thấy “cái lưỡi bò” này chỉ được tạo nên từ sự “ngoa ngôn ngụy biện” của phần lớn học giả nước này.

Vậy “đường lưỡi bò” này “bò” từ đâu ra?

Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ xuất hiện trong các địa đồ hay thư tịch của Trung Quốc cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Các bản đồ đời nhà Thanh ấn hành từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 đều khẳng định điểm cực nam của Trung Quốc chỉ dừng ở phủ Quỳnh Châu tại vĩ tuyến 18,13 độ vĩ bắc.

Trong khi quần đảo Hoàng Sa nằm ở vĩ tuyến 17,15 độ vĩ bắc và quần đảo Trường Sa ở từ vĩ tuyến 12 đến 8 độ vĩ bắc.
“Nâng cấp” chuyến đi của Lý Chuẩn
Cương giới của Trung Quốc từ cổ chí kim đều luôn được sử sách địa đồ của họ xác định chỉ nằm tại đảo Hải Nam và không thể vươn xa hơn nữa. Thậm chí, nhiều tài liệu mang tính lịch sử của Trung Quốc còn chứng minh ngược lại rằng Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam. Thế mà sau này đến thời đương đại, vì lòng tham trong tuyên bố chủ quyền ở biển Đông, những hậu thế Trung Quốc đã chà đạp sự thật lịch sử đó.

Có thể nói chính quyền Trung Quốc bắt đầu manh nha xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông từ năm 1909 và ngày càng bành trướng mưu đồ này cho đến ngày nay. Báo chí Quảng Châu thời bấy giờ đưa tin vào tháng 6-1909, chính quyền Quảng Đông đã đưa hai pháo hạm loại nhỏ do đô đốc Lý Chuẩn dẫn đầu đi một vòng quanh các đảo nằm phía đông đảo Hải Nam, để rồi vào năm 1932 chính quyền Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch đã nâng cấp chuyến đi của đô đốc Lý Chuẩn là một dấu mốc thời gian để ấn định chủ quyền vô lý của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa.

Chuyến đi của Lý Chuẩn được ghi ngắn gọn là “được lệnh của tổng đốc Quảng Đông và Quảng Tây lúc bấy giờ là Trương Nhân Tuấn, tháng 6-1909 đô đốc Lý Chuẩn dẫn đầu hai chiến hạm Phục Ba và Sâm Hạm cùng 170 quan binh đến “thu phục Tây Sa” (tức Hoàng Sa của Việt Nam). Trên thực tế, chuyến đi của đô đốc Lý Chuẩn không phải là một chuyến khảo sát hay thị sát như phía Trung Quốc mô tả, cũng chẳng có chuyện thu phục Hoàng Sa như Trung Quốc từng tưởng tượng. Đó chỉ là chuyến đi mang tính chất “cưỡi ngựa xem hoa”, không hề lưu dấu hay để lại một dấu tích hoặc luận chứng lịch sử cụ thể trên những điểm mà họ đi qua“.

Thế nhưng, người Trung Quốc cứ thổi phồng và ngụy tạo chứng cứ biến chuyến đi này thành chuyến đi lịch sử nên mỗi giai đoạn có một kiểu mô tả khác nhau. Tờ Đại Công Báo ở Thiên Tân ngày 8-10-1933, tức đến 24 năm sau, đã vẽ thêm rằng đô đốc Lý Chuẩn cùng đoàn đội của ông ta đến Hoàng Sa và đã đo, vẽ cũng như đặt tên cho 16 đảo ở đây. Song ai có thể tin chỉ chưa đầy 24 giờ thì Lý Chuẩn có thể làm hết từng ấy việc ở Hoàng Sa và vì sao phải đến 24 năm sau bút ký này mới được đưa ra? Chỉ có người Trung Quốc nói cho người Trung Quốc nghe.


Trung Quốc khơi mào tranh chấp Hoàng Sa
Những chứng cứ do phía Trung Quốc đưa ra về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ xác thực cả về mặt lịch sử lẫn pháp lý. Song mưu đồ xâm chiếm thì đã rõ ngay khi Trung Quốc đưa ra luận điểm để bảo vệ cho chuyến thị sát trái phép quần đảo Hoàng Sa năm 1909 của quan binh nước này, cho rằng quần đảo Hoàng Sa là “quần đảo hoang”, trong khi Việt Nam đã có bằng chứng chứng minh được chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa từ thế 17.

Sau chuyến đi của Lý Chuẩn 12 năm, tháng 3-1921 chính quyền quân sự Quảng Đông đã ký một sắc lệnh vô lý sáp nhập Hoàng Sa của Việt Nam vào huyện Châu Nhai, phủ Quỳnh Châu lúc bấy giờ. Rõ ràng hành vi xâm phạm chủ quyền có chủ ý của Trung Quốc đối với Việt Nam diễn ra ngay trong thời kỳ Việt Nam đang bị Pháp xâm lược và mất hết quyền tự chủ về chủ quyền của mình.
Sở dĩ Trung Quốc muốn xâm chiếm Hoàng Sa là vì trước đó trong chuyến thị sát vùng biển này, tàu quan binh nhà Thanh đã phát hiện một nhóm thương nhân người Nhật đang chiếm cứ đảo Pratas nằm gần Hoàng Sa (sau này Trung Quốc gọi là Đông Sa). Trung Quốc không muốn quần đảo Hoàng Sa bị các nước mạnh thời đó nuốt trọn nên đã bắt đầu hoành hành về chủ quyền Hoàng Sa. Đây là mầm mống gây tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với Pháp lúc này đang được xem là đại diện cho An Nam (tên gọi Việt Nam lúc bấy giờ). Động thái của Trung Quốc năm 1921 đã khiến Pháp phải nhìn lại, dù tại thời điểm này Trung Quốc chỉ mới xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa trên văn bản.

Trước âm mưu xâm chiếm của Trung Quốc và sự manh nha xuất hiện của người Nhật trên tuyến đường biển quan trọng “nối liền giữa Hong Kong và Sài Gòn”, liên tiếp từ năm 1925-1930 Pháp đã có những động thái khẳng định chủ quyền không chỉ ở Hoàng Sa mà còn cả ở Trường Sa. Trước hết, đầu tháng 3-1925 toàn quyền Đông Dương Pasquier đã ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ của Pháp (tức thuộc về An Nam đang là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ).

Tiếp đến ngày 13-4-1930, Pháp đã cho tàu La Malicieuse ra Trường Sa để treo quốc kỳ Pháp. Mười ngày sau đó, Chính phủ Pháp đã tuyên bố thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Trước đó ngày 20-3-1930, toàn quyền Đông Dương đã yêu cầu Bộ thuộc địa Pháp “Cần thừa nhận lợi ích của nước Pháp ẩn chứa trong việc thay mặt An Nam thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa”.
Bình luận của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc
Cần nhắc lại rằng sau khi thua trận trong chiến tranh Trung - Nhật, nhà Thanh đã ký Hiệp ước Shimonoseki ngày 17-4-1895 (Trung Quốc gọi là Hiệp ước Mã Quan). Theo đó, nhà Thanh nhượng cho Nhật Bản vĩnh viễn chủ quyền đầy đủ của quần đảo Bành Hồ, Đài Loan và phần phía đông vùng biển của bán đảo Liêu Đông cùng với tất cả các tài sản có trên đó như: công sự, kho vũ khí...và khu vực này không bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.

Điều đó có nghĩa hai quần đảo này đã không được xem là thuộc chủ quyền của Trung Hoa (nhà Thanh)! Điều này hoàn toàn phù hợp với việc các bản đồ Trung Quốc vẽ trong thời kỳ này đã xem Hải Nam là vùng cực Nam của Trung Quốc. Mặt khác, qua sự kiện tàu buôn La Bellona của Đức bị chìm vì đá ngầm vào năm 1885 và tàu Himeji của Nhật bị đắm vào năm 1896 đã bị nhà đương cuộc Trung Hoa ở đảo Hải Nam từ chối trách nhiệm cứu vớt với lý do những vùng này không thuộc lãnh hải và quyền quản hạt của Trung Hoa cho thấy chí ít đến cuối thế kỷ 19, nhà đương cuộc Trung Hoa xem những quần đảo này không thuộc về Trung Quốc.

Mỹ yêu cầu Đài Loan làm rõ ý nghĩa “đường lưỡi bò“

21:28 |
Các học giả Đài Loan mới đây cho biết, Mỹ đã yêu cầu giới chức Đài Loan làm rõ ý nghĩa của ''đường 11 đoạn'' mà Đài Loan vẽ ra năm 1947 và được Trung Quốc dùng để làm cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền ở biển Đông. 
Mỹ yêu cầu Đài Loan làm rõ ý nghĩa “đường lưỡi bò“
Trung Quốc ngang nhiên đưa đường lưỡi bò vào hộ chiếu.
Giáo sư Trần Nhất Tân, Đại học Đạm Giang – cho biết thông tin trên tại một cuộc hội thảo ở Hồng Kông về vấn đề biển Đông hôm 19.5. Ông Trần Nhất Tân cho biết, yêu cầu của Washington đối với Đài Bắc có mục đích làm suy yếu lập trường của Bắc Kinh đối với ''đường 9 đoạn'' mà họ dùng từ năm 1949 để yêu sách gần như toàn bộ biển Đông là vùng biển của mình.
Tuy nhiên, học giả Đài Loan nói, yêu cầu mà Washington đưa ra 2 lần trong 3 tháng vừa qua vẫn chưa được thỏa mãn, vì nhà lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu e rằng việc đó sẽ làm bùng ra một cuộc khủng hoảng chính trị, đồng thời gây phương hại cho mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan.
Từ khi công bố ''đường lưỡi bò'' tới nay, Đài Loan và Trung Quốc chưa bao giờ nói rõ ý nghĩa của ranh giới đó là gì. Chẳng những các nước ở Đông Nam Á phản đối và bác bỏ ''đường 9 đoạn'', nhiều nước khác trên thế giới – kể cả Mỹ -cũng không ngớt yêu cầu Trung Quốc làm rõ ý nghĩa của đường ranh, mà chính các chuyên gia công pháp quốc tế của Bắc Kinh và Đài Bắc cũng không thống nhất ý kiến với nhau.
Tại một cuộc họp hôm 17.5 ở Đài Bắc, các học giả cho biết, ngay cả các học giả về công pháp quốc tế cũng cho rằng các quy định của luật pháp quốc tế và Luật Biển hiện nay đều vô cùng bất lợi cho yêu sách về "vùng biển lịch sử". Một học giả khác của Trung Quốc – ông Lý Lệnh Hoa – cũng cho rằng, ''đường 9 đoạn'' không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp lý.
Theo Laodong

Quốc hội và công thư Phạm Văn Đồng

10:09 |
(TBKTSG Online) – Quốc hội đang họp kỳ họp thứ bảy trong bối cảnh Trung Quốc đưa giàn khoản Hải Dương vào sâu thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đặc biệt gần đây trong những lập luận “ngược đời” để xác lập chủ quyền Hoàng Sa, phía Trung Quốc đã viện dẫn công thư mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai vào ngày 14-9-1958.
Quần đảo Hoàng Sa, thuộc lãnh thổ Việt Nam nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép và tạm thời quản lý. Ảnh lichsuvn.net
Việt Nam cũng như các nhà nghiên cứu đã nhiều lần lên tiếng khẳng định công thư này hoàn toàn không có giá trị về mặt pháp lý đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nhân dịp Quốc hội đang họp, các đại biểu có nên có những động thái nào để tái khẳng định điều nói trên một cách chính thức?
Có ý kiến cho rằng Quốc hội nên ra một Nghị quyết riêng, phủ quyết công thư của ông Phạm Văn Đồng với lý do Quốc hội thời đó chưa bao giờ có ý kiến chính thức về công thư này. Cũng có ý kiến cho rằng nên khẳng định công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 hoàn toàn không đề cập đến vấn đề lãnh thổ, chủ quyền và không đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ý kiến khác lại cho rằng những lập luận của các học giả về việc công thư không có giá trị pháp lý là rất rõ ràng, Quốc hội nên sử dụng các lập luận này trong một văn bản chính thức, công bố trong kỳ họp này, để xem đó là tài liệu chính thức mà Việt Nam có thể sử dụng sau này trong các tranh biện pháp lý với Trung Quốc.
Trả lời phỏng vấn TBKTSG Online, Luật sư Tạ Văn Tài, nguyên giảng viên và hiện là nghiên cứu viên Trường Luật thuộc Đại học Harvard cho rằng Quốc hội không cần ra tuyên bố nói công thư của ông Phạm Văn Đồng là sai và nay Quốc hội phải ra Nghị quyết để hủy bỏ hay phủ quyết gì cả.
Ông Tài cho rằng cách hay nhất là Quốc hội, với quyền giải thích Hiến pháp và các văn bản pháp quy, các văn kiện luật và dưới luật cho ra một tuyên bố, nói rằng công thư mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1958 chỉ là một tuyên bố đơn phương (unilateral declaration) chỉ nhằm mục đích ủng hộ Chu Ân Lai khi hai nước Việt Nam và Trung Quốc là đồng minh. Phần giải thích của Quốc hội nói rõ công thư chỉ ủng hộ về cái gọi là 12 hải lý lãnh hải mà ông Chu Ân Lai tuyên bố cho Trung Quốc. “Chừng đó cũng đủ để phá luận cứ của Trung Quốc về Hoàng Sa,” luật sư Tài xác quyết.
Trong một văn bản gởi kèm cho TBKTSG Online, Luật sư Tạ Văn Tài đã đưa ra lời giải thích của ông về công thư Phạm Văn Đồng và cách đáp lại những luận cứ của phía Trung Quốc (phần tóm tắt mà chúng tôi đã đăng tải trên TBKTSG Online, tại đây). Bản giải thích đầy đủ của luật sư Tạ Văn Tài được đăng toàn văn dưới đây.
Ông Tài cho rằng Quốc hội Việt Nam chỉ cần ra một tuyên bố chấp nhận lời giải thích của ông Tài với tư cách là một học giả độc lập, mang tính khách quan và ghi vào biên bản phiên họp. Theo ông, đây là một hành vi nghị trường nhẹ nhàng và đúng mực nhưng cũng rất công chính, không sợ phía Trung Quốc xuyên tạc.
**
Luật sư Tạ Văn Tài. Ảnh TL
Phụ lục lời giải thích của Luật sư Tạ Văn Tài về công thư/công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958
Luận cứ của Trung Quốc khi họ viện dẫn công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng, KỂ CẢ TRONG VỤ BIỆN MINH CHO VIỆC ĐẶT GIÀN KHOAN TRONG VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM, là để nói rằng ông Đồng đã ra công hàm ủng hộ tuyên bố của Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai, do đó công nhận:
- “Lời tuyên bố chủ quyền Trung Quốc trên các lãnh hải, kể cả lãnh hải tính từ các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
- Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là hải phận của Trung Quốc
- Nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuân thủ các luật lệ liên hệ của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”
Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Tổng lý Chu Ân Lai năm 1958. Ảnh TL
Ông Phạm Văn Đồng gửi bức công hàm cho Ông Chu Ân Lai nguyên văn như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.”
*  *  *
Nên ghi chú ngay rằng ông Phạm Văn Đồng chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói về đảo, đất. Nhưng chúng tôi xin đi vào chi tiết 2 luận cứ pháp lý để bác luận cứ của Trung Quốc về công hàm Phạm Văn Đồng như sau:
(a) Thứ nhất, và quan trọng nhất, Hiệp định Geneva trao quyền quản lý hành chánh Hoàng Sa và Trường Sa, đều ở phía nam vĩ tuyến 17, cho chính phủ Miền Nam Việt Nam, tức Việt Nam Cộng hòa (VNCH), ở phía nam vĩ tuyến đó, cho nên các hành vi xác lập và hành xử chủ quyền về Hoàng Sa và Trường Sa phải thuộc thẩm quyền VNCH, và chính phủ này cũng như hải quân của họ đã mạnh mẽ xác nhận chủ quyền Việt Nam ở các hải đảo trong và sau biến cố hải chiến 1974. Còn ông Phạm Văn Đồng, đại diện miền Bắc Việt Nam, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) lúc đó, không có thẩm quyền hay không có ý định tuyên bố gì về chủ quyền đất đai về Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VNCH vào thời điểm đó, mà chỉ dưa ra lời tuyên bố công nhận hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
Tuy nguyện vọng “dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một” là chính đáng, nhưng tình trạng hiện hữu của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại (question of fact) trong luật quốc tế, cho nên thực tại có hai nước Việt Nam, VNDCCH và VNCH, trong thời gian 1954-1975, là đúng với luật quốc tế và có lợi về mặt chính trị và pháp luật trong việc bảo vệ chủ quyền đất đai trên Hoàng Sa và Trường Sa bởi VNCH trong thời gian đó, mà ngày nay, sau khi thống nhất dất nước năm 1976, thì VNDCCH rồi Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia kế quyền (successor state) trong sự bảo vệ chủ quyền đất đai đó. Sự kế quyền trong việc bảo vệ chủ quyền đất đai này đã được chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói tới.
Vào ngày 25-11-2011 tại Quốc hội, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có những phát biểu về Hoàng Sa và Trường Sa: “Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự ít nhất là từ thế kỷ XVII. Chúng ta làm chủ hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ một quốc gia nào và chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục hòa bình. Nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa. Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì hải quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản. Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo, với 33 điểm đóng quân. Ngoài ra chúng ta còn xây dựng thêm 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển này, vùng biển trong phạm vi mà 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta. Trong khi đó ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc cũng đã chiếm 7 bãi đá ngầm, Đài Loan chiếm 1 đảo nổi, Philippines chiếm 9 đảo, Malaysia chiếm 5 đảo, còn Brunei có đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển nhưng không có chiếm giữ đảo nào”.
Khi một quốc gia đã hội đủ 4 điều kiện sau đây của Hiệp ước Montevideo 1933 (nó xác lập truyền thống luật quốc tế mấy thế kỷ về tình trạng quốc gia/statehood), thì phải được coi là một quốc gia (state) thành viên trong cộng đồng quốc tế: (a) một dân số ổn định vĩnh cửu (a permanent population); (b) một lãnh thổ rõ rệt (a defined territory); (c) một chính quyền (a government); và (d) có khả năng giao dịch với quốc gia khác (capacity to enter relations with other states). VNCH là một thực thể có đủ 4 điều kiện này. Còn vấn đề các nước khác nhìn nhận một state có đủ bốn điều kiện trên để lập bang giao thì là một vấn đề chính trị và tiêu chuẩn chính trị thêm vào bốn tiêu chuẩn luật, và chính phủ nào ghét một nước nào mà không nhìn nhận thì cũng không thể xóa bỏ tư cách state của nước đó - đó là trường hợp Cuba bị Mỹ ghét, không nhìn nhận, mà Mỹ đâu có xóa tư cách state của Cuba được. Tòa án Mỹ vào các năm 1920’s công nhận chính phủ Bolshevik của Liên xô có đặc miễn như chủ thể quốc tế khi có các vụ kiện đòi các tiền ký thác khi xưa trong ngân hàng ở Nga bị Bolsheviks quốc hữu hóa, mặc dù chính phủ Mỹ hồi đó chưa nhìn nhận nước Liên xô.
Nước VNCH 1954-75 đã được mấy chục nước nhìn nhận ngoại giao, có lúc Liên xô đã đề nghị cả hai nước Việt Nam vào Liên hiệp quốc. Việc có vô Liên hiệp quốc hay không vô được (thí dụ bị một trong 5 quốc gia hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an phủ quyết) , thì là chuyện chính trị, không phải là tiêu chuẩn về sự khai sinh một nước/state.
Những ai, cứ viện dẫn Hiệp định Genève nói sẽ có một nước Việt Nam sẽ được thành lập với tuyển cử thống nhất hai phần đất tạm thời chia cắt, mà coi nước VNCH như không có trong trời đất là không hiểu luật quốc tế mấy trăm năm về statehood và lẫn lộn tiêu chuẩn pháp lý về statehood trong luật quốc tế với những sự sắp xếp chính trị của các cường quốc trong một hiệp định giữa vài nước mà thôi, đã cố tình quên cái thực tại chính trị là đã có mấy chục nước nhìn nhận sự khai sinh của VNCH, và cũng quên mất luật quốc tế theo nghĩa là một số ít nước ký Hiệp định Geneve không thể truất cái quyền tối cao(sovereign) của mấy chục nước kia đã nhìn nhận VNCH.
Bây giờ ông Thủ tướng Dũng nói, và trước đây giả thử tiền nhiệm của ông là ông Đồng nói một cách minh thị hơn nữa, nói đến hai nước Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975, thì cũng không giảm giá trị của sự nghiệp thống nhất đất nước vào năm 1975-76 vì trong lịch sử thế giới, đã có nhiều quốc gia chia ra nhiều mảnh rồi lại thống nhất, và cũng có quốc gia chia ra hai, thí dụ Pakistan chia thành hai, nửa kia thành Bangladesh, Sudan trước là một thì nay là hai quốc gia, mà các quốc gia đó vẫn có vị trí được nhìn nhận trong cộng đồng các quốc gia; và các lãnh tụ chính trị đưa hai quốc gia của một dân tộc đến thống nhất, mà biết tôn trọng quyền lợi của cả dân tộc sau khi thống nhất, thì cũng được lịch sử khen ngợi—như Lincoln, sau Chiến tranh Nam Bắc Mỹ, đã nói “Cùng nhau, chúng ta sẽ săn sóc cho cô nhi, quả phụ của cả hai bên”
Vậy xin nhắc lại là ông Đồng, đại diện miền Bắc Việt Nam, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó, phải được giải thích là không có thẩm quyền hay không có ý định tuyên bố gì về chủ quyền đât đai về Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VNCH, một quốc gia khác vào thời điểm đó, mà chỉ dưa ra lời tuyên bố công nhận hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Có giải thích như vậy mới không bị Trung Quốc bắt bí, và cứ quy cho Việt Nam cái thế “há miệng mắc quai” vì lối giải thích công hàm Phạm Văn Đồng của Trung Quốc.
(b) Thứ hai, một bản tuyên bố đơn phương (unilateral declaration) như Công hàm Phạm Văn Đồng không có hiệu lực pháp lý về mặt quốc tế. Trong luật quốc tế, không thể cố áp dụng lý thuyết estoppel, tức là lý thuyết trong luật pháp quốc nội của một số quốc gia có quy định là “Đã nói ra thì không nói ngược lại được”, vì lý thuyết này không áp dụng trong luật quốc tế theo cùng các điều kiện như trong luật quốc nội, vì có những điều kiện ngặt nghèo, và do đó không thể coi lời nói đơn phương có hiệu lực ràng buộc đương nhiên trong luật quốc tế.
Tòa án quốc tế trong một vụ xử giữa Đức và Đan Mạch/Hà Lan về thềm lục địa đã nói như vậy. Ngoài ra, theo một án lệ khác, khi xét ý nghĩa của lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải xét một cách chặt chẽ ý định (intention) của người tuyên bố.
Theo án lệ NUCLEAR TESTS CASE AUSTRALIA& NEW ZEALAND v. FRANCE 1974 I.C.J. 253, thì “dĩ nhiên là không phải hành vi đơn phương nào cũng tạo ra nghĩa vụ; nhưng một quốc gia có thể chọn theo một lập trường về một vấn đề nào đó với ý định sẽ tự ràng buộc—miễn là ý định này phải xét kỹ bằng sự giải thích hành vi đó. Khi các quốc gia đưa ra lời tuyên bố hạn chế tự do hành động của mình, thì phải giải thích hạn hẹp…” Tòa án cũng nói là: “chỉ cần xét một vấn đề quan trọng là xem lời văn trong lời tuyên bố có biểu lộ một ý định rõ rệt không … Tòa án phải tự có quan điểm riêng về ý nghĩa và phạm vi mà tác giả lời tuyên bố đơn phương nào có thể tạo ra một nghĩa vụ pháp lý, và tòa không thể bị ảnh hưởng gì bởi quan điểm của một quốc gia khác vốn không thể là một bên đương sự trong lời tuyên bố đó.” (Of course, not all unilateral acts imply obligation; but a State may choose to take up a certain position in relation to a particular matter with the intention of being bound--the intention is to be ascertained by interpretation of the act. When States make statements by which their freedom of action is to be limited, a restrictive interpretation is called for......The Court further stated in the same case: “... the sole relevant is whether the language employed in any given declaration does reveal a clear intention...”(Ibid., p. 32). Court must however form its own view of the meaning and scope intended by the author of a unilateral declarationwhich may create a legal obligation, and cannot in this respect be bound by the view expressed by another State which is in no way a party to the text.).
Ý định của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong cái câu ông nói ở Công hàm 1958 (“Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc") có thể nói thêm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã im lặng nhiều năm, không phản đối chuyện mất Hoàng Sa về tay họ năm 1956 (khu vục Amphitrite với đảo Woody/Phú Lâm, phía đông Hoàng Sa) và 1974 (khu vực Crescent có đảo Pattle/Hoàng Sa phía tây Hoàng Sa). Sau hết, Việt Nam có in bản đồ ghi Tây Sa, Nam Sa (Trung Quốc) và có in một dòng trong sách giáo khoa lớp 9 như sau: “ Chuỗi hải đảo Nam Sa, Tây Sa, Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ and Châu Sơn như một vòng cung bức trường thành nó bảo vệ lục địa Trung quốc”
Nhưng Việt Nam có thể bác khước là ngay cả lời tuyên bố đơn phương/unilateral declaration của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng không có giá trị về chuyển nhượng lãnh thổ, nữa là mấy bài báo Nhân dânthời đó hay lời nói thoáng qua của Bộ trưởng Ngoại giao Khiêm chỉ nhắc lại nguyên văn bản tuyên bố của Trung Quốc.
Còn việc Trung Quốc biện luận là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa im lặng khi mất Hoàng Sa trong những năm trước 1975 thì có thể trả lời là lúc đó, việc phản đối thuộc thẩm quyền của chính phủ có quyền quản lý là quốc gia Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa đã mạnh mẽ phản đối, kể cả chống cự bằng võ lực.
Sau khi thống nhất,hay khi sắp sửa thống nhất, thì hải quân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã vội chiếm trong tay quân đội Việt Nam Cộng hòa các đảo ớ Trường Sa vào năm 1975 và từ 1976 trở di, chính phủ của nước Việt Nam thống nhất liên tục lên tiến phản đối để bảo lưu chủ quyền Việt Nam.
Sau hết, việc in bản đồ ghi Tây Sa, Nam Sa (Trung Quốc) là Việt Nam chỉ nói để làm được lòng Trung Quốc, đồng minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang viện trợ lúc đó, muốn yêu sách như vậy, cũng như Trung Quốc bây giờ in khung Đường Lưỡi Bò vào trong sổ hộ chiếu họ dùng, nhận vơ hầu như tất cả Biển Đông trong khung Đường Lưỡi Bò đó; cả hai việc đó không có giá trị của một lời hay một hiệp ước nhượng đất của các cơ quan hiến định Việt Nam có quyền nhượng đất, là chủ tịch nước và nghị viện hay quốc hội.
Cái câu trong sách giáo khoa thì cũng chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền ngoa ngữ để ủng hộ tinh thần cho Trung Quốc khi nước này đang lo sự đe dọa của Tổng thống Mỹ ít năm trước đó chỉ định các vùng đó là vùng chiến trận, và câu đó không có giá trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhượng đất hiện dưới chủ quyền của VNCH.

Dân Trung Quốc cũng phản đối “đường lưỡi bò” trên hộ chiếu

20:11 |
Việc 6 triệu hộ chiếu mới của Trung Quốc được in hình bản đồ “đường lưỡi bò” đang gặp phải sự phản đối ngay trong chính dư luận nước này.
Dân Trung Quốc phản đối hộ chiếu in “đường lưỡi bò” trên diễn đàn bbs.tiexue.net.

Vài ngày qua, vấn đề Trung Quốc cho in chìm hình “đường lưỡi bò” trong mẫu hộ chiếu mới không chỉ gây phản ứng trong dư luận khu vực và thế giới, mà còn trở thành tâm điểm tranh luận trên chính các diễn đàn trực tuyến của nước này.

Mạng Thanh niên Bắc Kinh dẫn lời một người dân Trung Quốc đang làm việc ở một nước thành viên ASEAN cho biết 3 người bạn của anh đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xin thị thực xuất nhập cảnh vào nước khác.

Tương tự, một cư dân mạng Trung Quốc có biệt danh David cũng than thở trên trang mạng weibo rằng chỉ vì tấm hộ chiếu mới mà anh ta đã gặp nhiều phiền toái khi làm thủ tục xuất nhập cảnh.

Còn trên diễn đàn bbs.tiexue.net của Trung Quốc, không ít cư dân than vãn rằng, chỉ vì “đường lưỡi bò” mà họ mất rất nhiều thời gian khi nhập cảnh vào Philippines, Việt Nam, Mỹ và Ấn Độ… Điều này khiến họ cảm thấy rất khó chịu vì trước đó không được báo chí cũng như chính quyền Trung Quốc cảnh báo.

“Dù có thế nào cũng không thể sửa được diện mạo vốn có của tấm hộ chiếu này. Mẫu hộ chiếu mới chỉ tổ mang lại phiền phức cho người dân...”, một thành viên mạng có tên Hbomb viết.

“Các ông không nên gây khó khăn cho người dân”, một ý kiến nữa nói.

Thành viên có tên Greywoof phản ứng: “Hộ chiếu là nơi thể hiện quyền hành của chính phủ, chứ không phải là chỗ thể hiện văn hóa dân tộc”.

 “Giờ thì tốt rồi, người ta lại có thêm lý do để gây khó khi mình nhập cảnh”, một ý kiến tự châm biếm.

Vì quá e ngại những rắc rối từ tấm hộ chiếu mới, thành viên tên Mumbojumbo thậm chí còn vẽ nên viễn cảnh: “Xem ra sẽ có nhiều người dân Trung Quốc muốn từ bỏ quốc tịch của mình. Năm nay sẽ đặc biệt nhiều đấy”…

Thẳng thắn hơn, có cư dân mạng Trung Quốc nhận xét việc đổi hộ chiếu là một “chiêu” thất bại của Bắc Kinh. Người này đặt câu hỏi: “Nếu ngày mai Philippines, Việt Nam hoặc Ấn Độ cũng đổi hộ chiếu mới thì sao?”.

Kể từ khi Trung Quốc ban hành mẫu hộ chiếu mới có in hình “đường lưỡi bò”, hầu hết các nước đã từ chối cấp thị thực hoặc đóng dấu xuất nhập cảnh vào các tấm hộ chiếu này.

Ấn Độ cho biết chỉ cấp thị thực sau khi cho in đè bản đồ của Ấn Độ lên bản đồ có “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Philippines đóng dấu hủy các trang có in “đường lưỡi bò”, còn Việt Nam chọn cách đóng dấu nhập cảnh cho công dân Trung Quốc vào một giấy thông hành rời và sẽ thu lại giấy này sau khi công dân Trung Quốc làm thủ tục xuất cảnh.

Đài Loan kịch liệt phản đối

Được coi là một phần không thể tách rời của Trung Quốc Đại lục, song Đài Loan cũng lên tiếng phản đối mạnh mẽ hộ chiếu mới có in đường đứt đoạn 9 khúc của Bắc Kinh.

“Hộ chiếu mới của Trung Quốc hoàn toàn phớt lờ thực tế và chỉ kích động thêm tranh chấp”, Ủy ban phụ trách các vấn đề Đại lục của Đài Loan ra tuyên bố nêu rõ.

Cũng theo Ủy ban trên, chính quyền và nhân dân Đài Loan không chấp nhận hộ chiếu mới của Trung Quốc trong bất kỳ trường hợp nào.

“Đài Loan không công nhận hộ chiếu có in đường lưỡi bò của Trung Quốc. Bất cứ công dân Đại lục nào muốn vào Đài Loan sẽ được cấp một giấy thông hành riêng”, Ủy ban này khẳng định.

Các đảng cầm quyền và các nhà lập pháp đối lập ở Đài Loan cũng lên án hành động kích động gia tăng căng thẳng ở Biển Đông của Đại lục, cho rằng hành động này của Bắc Kinh chỉ càng khoét thêm hố sâu ngăn cách giữa hai bờ và làm xói mòn mối quan hệ mới được nhen nhóm không lâu giữa hai bên kể từ khi ông Mã Anh Cửu lên nắm quyền ở Đài Loan cách đây hơn 4 năm.


Theo www.dantri.com.vn
Được tạo bởi Blogger.

Biển Đông News

Template Information