Báo Mỹ khen vũ khí Việt Nam, dân mạng Trung Quốc "lồng lộn"

23:10 |

Trước nhận định của chuyên gia Robert Farley về các hệ thống vũ khí ưu việt của quân đội Việt Nam, cư dân mạng Trung Quốc đã đưa ra nhiều phát ngôn hiếu chiến.


Tạp chí National Interest của Mỹ ngày 12/7 đăng tải một bài viết của tác giả Robert Farley (phó giáo sư Trường ngoại giao và thương mại quốc tế Patterson, Mỹ), trong đó đề cập tới những vũ khí bảo vệ chủ quyền của Việt Nam có thể khiến Trung Quốc phải dè chừng.
Tau viet nam

Ông Farley nhận định Quân đội Việt Nam sẽ dần có một lực lượng tàu ngầm hùng mạnh hơn chỉ trong vòng vài năm tới (Trong ảnh: Tàu ngầm Kilo Hà Nội)

Các vũ khí này bao gồm:
- Máy bay chiến đấu Su-27
- Tàu ngầm Kilo
- Tên lửa hành trình chống hạm P-800 Yakhont
- Hệ thống phòng không S-300
Ngoài ra, bài viết còn nhắc tới chiến tranh du kích nổi tiếng trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Tác giả Farley nhận định Việt Nam không bao giờ mong muốn một cuộc đối đầu quân sự. Tuy nhiên, nếu phải tự vệ, dù Việt Nam và Trung Quốc cùng sử dụng nhiều loại vũ khí do Liên Xô, sau này là Nga, chế tạo nhưng Việt Nam sẽ phòng thủ hiệu quả.
Sau khi bài viết này được dẫn lại trên Thời báo Hoàn Cầu, China News và một số tờ báo lớn khác của Trung Quốc, cư dân mạng nước này đã có rất nhiều phản hồi khác nhau nhưng phần lớn đều rất khó nghe, hung hăng, ngang ngược.
Thành viên ID-3168144 bình luận trên Thời báo Hoàn Cầu: "Những vũ khí này Việt Nam đều trang bị dựa trên tham khảo từ Trung Quốc, những gì Việt Nam có, Trung Quốc đều có nhưng những gì Trung Quốc có, Việt Nam chưa chắc đã có".
Một người đọc trên Chinanews cho rằng: "Nếu cứ nghe lời Mỹ, Trung Quốc không thể chiến đấu lại được quốc gia nào".
Còn có những thành viên tỏ rõ thái độ thách thức Việt Nam sử dụng những vũ khí trên tấn công Trung Quốc: "Vũ khí Trung Quốc và Việt Nam có cùng một đẳng cấp để so sánh không? Việt Nam thử dùng những vũ khí đó xem có thể cầm cự được bao lâu".
Một số thành viên thì cho rằng Mỹ mới là kẻ đứng sau tất cả và những nhận định này chỉ nhằm mục đích xúi giục gây bất hòa giữa Việt Nam và Trung Quốc.
"Truyền thông Mỹ rõ ràng là gây tin đồn thị phi để thừa nước đục thả câu" - Một độc giả viết.
Có một số ít những bình luận với thái độ cân nhắc hơn trước bài viết trên của truyền thông Mỹ, nhắc nhở Trung Quốc không nên coi thường Việt Nam bởi một đất nước từng phải đối mặt với nhiều cuộc chiến và có bề dày kinh nghiệm chiến đấu như Việt Nam không chỉ đơn giản dựa vào 5 loại vũ khí này. Đặc biệt là chiến tranh du kích của Việt Nam đã từng khiến cho người Mỹ phải kinh sợ.
Tuy nhiên, ngay lập tức, những cư dân mạng Trung Quốc đưa ra các ý kiến này bị đám quá khích lao vào mắng là "đồ theo đuôi Mỹ” hoặc "nhát gan". Một số ý kiến còn tự nhận rằng Trung Quốc mới là nước sáng tạo ra chiến tranh du kích, nên Trung Quốc không cần phải sợ ai.
Qua những bình luận trên của cư dân mạng Trung Quốc, có thể nhận thấy phần lớn đều mang giọng điệu hiếu chiến. Đây là một biểu hiện đáng buồn của một bộ phận người dân Trung Quốc khi họ không nhận thức đúng đắn tình hình hiện nay.

Giáo sư Mỹ: Việt Nam nắm được điểm yếu trên biển của Trung Quốc

00:12 |
Các chuyên gia phân tích hải quân từ lâu đã coi Trung Quốc đặc biệt yếu về tác chiến chống ngầm. Do đó, có lẽ rằng Việt Nam đã phát hiện ra một điểm yếu trong “cái vỏ bọc thép” của Trung Quốc và đang tìm cách khai thác.

Giáo sư Lyle J. Goldstein tại Viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc (CMSI), thuộc Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ mới đây đã có buổi trả lời phỏng vấn phóng viên Jane Perlez của tờ New York Times về tương quan thực lực quân sự Việt Nam-Trung Quốc. Dưới đây là một số nội dung của cuộc phỏng vấn:


Phóng viên (PV)Việt Nam dường như muốn theo đuổi chính sách độc lập, tự chủ giữa Trung Quốc và Mỹ. Vấn đề này trong lĩnh vực quân sự diễn ra như thế nào?
Giáo sư Lyle J. Goldstein: Việt Nam là một quốc gia có truyền thống quân sự mạnh mẽ. Chắc chắn, chiến lược quân sự và ngoại giao của Việt Nam hiện nay bị ảnh hưởng bởi lịch sử hiện đại của Việt Nam. Việt Nam đã đánh bại thực dân Pháp trong những năm 1950, sau đó đánh bại Mỹ (1965-1973) và cuối cùng đẩy lui cuộc tấn công xâm lược biên giới phía bắc của Trung Quốc năm 1979. Lịch sử này dường như đã truyền cảm hứng cho Việt Nam với một sự tự tin để phát triển một chính sách đối ngoại khá độc lập.


Điểm yếu của Trung Quốc trên biển là tác chiến chống ngầm?

PVÔng đã thực hiện vài nghiên cứu về việc Trung Quốc đánh giá Việt Nam và quân sự của Việt Nam. Hiện nay, Trung Quốc nghĩ gì về khả năng quân sự của Việt Nam?
Giáo sư Lyle J. Goldstein: Trung Quốc đã theo dõi rất chặt chẽ năng lực quốc phòng ngày càng tăng của Việt Nam. Điều thú vị là cả Bắc Kinh và Hà Nội đều phụ thuộc một phần nào đó vào vũ khí của Nga - như tàu ngầm, tàu chiến, máy bay chiến đấu - để tăng cường hiện đại hóa quân đội. Những tương đồng này cho phép Trung Quốc có đánh giá tổng quan về khả năng quân sự của Việt Nam. Một điều đáng lưu ý là nếu có một cuộc xung đột quân sự nào đấy nhằm vào Nhật Bản hay Mỹ, vũ khí cũng như chiến thuật mà Trung Quốc đem ra sử dụng cũng có thể được Việt Nam áp dụng để đối phó Trung Quốc. Ngoài ra, Việt Nam có sự độc lập cả về vũ khí cũng như kinh nghiệm quân sự hơn nếu so sánh với Trung Quốc ở khía cạnh phụ thuộc vào vũ khí Nga.

Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu quân sự Trung Quốc đã chỉ ra một loạt điểm yếu về chiến lược quân sự của Việt Nam. Họ cho rằng tàu ngầm là một sự đột phá quan trọng trong các nỗ lực của Việt Nam, nhưng các nhà phân tích Trung Quốc đánh giá Việt Nam cơ bản đang thiếu kinh nghiệm để vận hành hệ thống vũ khí phức tạp hiện đại này. Điểm yếu khác trong khả năng quốc phòng của Việt Nam mà các chuyên gia phân tích Trung Quốc nhắc đến là khả năng giám sát, kiểm soát chiến trường và mục tiêu. Dường như họ (các chuyên gia Trung Quốc) nghĩ rằng Trung Quốc có thể chiếm ưu thế trong bất kỳ cuộc xung đột vũ trang nào.

PV: Việt Nam đã mua 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo từ Nga. Tại sao Việt Nam lại chọn loại tàu ngầm này?

Giáo sư Lyle J. Goldstein: Nhiều nhà phân tích hải quân cho rằng tàu ngầm là loại tàu chủ yếu đối với bất kỳ lực lượng hải quân hiện đại nào. Trong khi tàu nổi ngày càng dễ bị tổn thương bởi một cuộc tấn công tầm xa và vũ khí chính xác, tàu ngầm vẫn có thể sống sót vì những khó khăn cố hữu của các tàu săn ngầm. Các tàu ngầm có thể hoạt động khá độc lập, nhưng vẫn thực hiện được các vụ tấn công nguy hiểm với các quả ngư lôi hoặc tên lửa hành trình chống tàu (ASCM).

Tàu ngầm diesel lớp Kilo của Nga đã được xuất khẩu phổ biến trên thế giới, cho cả hải quân Ấn Độ và Trung Quốc. Tàu ngầm này được đánh giá là một đối thủ đáng gờm trong giới hải quân Mỹ, không chỉ vì nó có độ ồn thấp, làm cho nó rất khó bị phát hiện, mà còn vì sự hiệu quả của các hệ thống vũ khí liên quan của nó, ví dụ như ASCM Klub-S với tầm bắn ấn tượng, có thiết bị dẫn đường đầu cuối. Chắc chắn những vũ khí này làm tăng thêm đáng kể khả năng quốc phòng của Việt Nam. Tóm lại, từ lâu Việt Nam đã cho thấy một khả năng sử dụng lực lượng trên bộ rất hiệu quả, nhưng khả năng trên không và đặc biệt là khả năng trên biển vẫn khá hạn chế, ít nhất cho đến thời điểm này.

Giáo sư Lyle J. Goldstein, người thông thạo tiếng Trung Quốc và Nga, có bằng Thạc sĩ nghiên cứu chiến lược tại Trường Nghiên cứu Quốc tế cao cấp Johns Hopkins (Mỹ). Trong quá trình nghiên cứu Tiến sĩ tại trường Đại học Princeton, ông chuyên nghiên cứu về Trung Quốc. Ông giảng dạy ở Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ năm 2001 và là người giúp thành lập Viện Nghiên cứu Hàng hải Trung Quốc năm 2006. Viện này được thành lập để thực hiện những nghiên cứu đặc biệt về sự phát triển hải quân một cách nhanh chóng của Trung Quốc cho Hải quân Mỹ.
Tuy nhiên, các chuyên gia phân tích hải quân từ lâu đã coi Trung Quốc đặc biệt yếu về tác chiến chống ngầm. Do đó, có lẽ rằng Việt Nam đã phát hiện ra một điểm yếu trong “cái vỏ bọc thép” của Trung Quốc và đang tìm cách khai thác.

Nhưng cũng có thể nói rằng Hải quân Trung Quốc cũng đã nhận thức được điểm yếu này và họ đang tìm cách cải thiện khả năng tác chiến chống ngầm của mình bằng cách triển khai một lượng lớn các tàu khu trục hạng nhẹ có khả năng chống ngầm mới trong vài năm qua.

PV: Nếu có một cuộc xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam hiện nay, bên nào sẽ giành ưu thế?
Giáo sư Lyle J. Goldstein: Như đã mô tả ở trên, Việt Nam đã thực hiện một số khoản đầu tư khôn ngoan và gần như chắc chắn có thể gây ra những thiệt hại đáng kể đối với Hải quân và Không quân Trung Quốc. Rõ ràng là sẽ có một số lợi thế đối với Việt Nam nếu một cuộc xung đột nổ ra. Ví dụ, Trung Quốc không đặc biệt mạnh trong lĩnh vực tiếp nhiên liệu trên không, vì thế Việt Nam có khả năng chiếm ưu thế trên không, đặc biệt là trên Biển Đông, những nơi cách xa các sân bay của Trung Quốc.

Nhìn chung, rất khó để dự đoán kết quả và thế giới đã không chứng kiến một cuộc chiến tranh hải quân hiện đại thuần túy kể từ cuộc xung đột giữa Argentina và Vương quốc Anh trong tranh chấp quần đảo Falkland năm 1982. Do đó, các phân tích ngắn gọn trên cần phải được xử lý rất thận trọng.

PVÔng nghĩ Việt Nam sẽ ứng xử như thế nào với Trung Quốc trong vài năm tới?

Giáo sư Lyle J. Goldstein: Việt Nam và Trung Quốc có mối quan hệ trải rộng trên rất nhiều lĩnh vực. Sự hợp tác sâu sắc trong các lĩnh vực có lợi thế về kinh tế, văn hóa và xã hội giữa hai nước là một minh chứng đầy đủ nhất. Việt Nam cần phải triển khai nền ngoại giao tích cực để tìm ra một chiến lược cho riêng mình trước một cường quốc đang trỗi dậy ở phía Bắc. Đây sẽ là một quá trình khó khăn, nhưng chắc chắn đó là sự bảo đảm tốt nhất đối với an ninh và sự thịnh vượng của Việt Nam trong dài hạn trước một gã hàng xóm hung bạo.


  1. Vũ Thanh (New York Times)

Báo Trung Quốc: 4 lý do không thể thắng Việt Nam bằng chiến tranh

04:35 |
Trên trang mạng Quân sự Trung Quốc (Military.china.com) ngày 3/7 có bài viết cho rằng với 4 lý do cốt tử, gần như chắc chắn Trung Quốc sẽ phải gánh chịu thất bại nếu gây chiến với Việt Nam.
Không quân Việt Nam luôn sẵn sàng túc trực bảo vệ bầu trời Tổ quốc.
Căng thẳng trên biển Hoa Đông giữa Trung Quốc với Nhật Bản hay trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc càng trở nên căng thẳng hơn nữa và kêu gọi gây chiến không chỉ bởi những quyết sách thâm hiểm từ các cấp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, mà còn bởi một bộ phận người Trung Quốc thiếu hiểu biết, mang tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan "Đại Hán" luôn cổ vũ cho những hành động mang tính chất ngang ngược vô đạo đối với các nước láng giềng.
Nhưng bên cạnh đó cũng những người Trung Quốc hiểu và biết rằng, nếu bây giờ Trung Quốc gây chiến với các nước láng giềng họ sẽ tự chuốc lấy họa.
Trên trang mạng Quân sự Trung Quốc (Military.china.com) ngày 3/7 có bài viết cho rằng với tình hình hiện tại Trung Quốc không thể gây chiến. 
Theo đó lý do thứ nhất là sự lão luyện thiện chiến của quân đội Việt Nam. Bài viết cho rằng, không phải lãnh đạo Trung Quốc không dám gây chiến, nhưng với những hạn chế hiện tại của Trung Quốc, thi Trung Quốc không thể tiến hành gây ra một cuộc chiến tranh với bất kỳ quốc gia láng giềng nào.
Nếu Trung Quốc gây chiến với Việt Nam, Trung Quốc sẽ rơi vào cái bẫy, những bài học từ cuộc chiến với Việt Nam năm 1979 đã cho thấy sự hao tiền tốn của và sinh mạng như thế nào, chỉ riêng trong trận Lão Sơn, mỗi tuần Trung Quốc tiêu hao gần 200.000 quả đạn pháo, nhưng lại thiệt hại từ 4.000 đến 8.000 quân.
Quân đội Việt Nam sử dụng chiến thuật chiến tranh du kích rất lão luyện, họ sẽ đánh bại chúng ta bằng cuộc chiến tiêu hao từ từ cho đến khi chúng ta thất bại, chúng ta không thể khinh thường họ. Người Mỹ đã hết sức sai lầm khi tuyên bố "đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá" và Việt Nam đã đáp lại bằng câu nói rằng "chúng tôi đã bước vào thời kỳ đồ nhôm" (xác máy bay Mỹ)... Vì vậy Trung Quốc không thể chiến thắng bằng cách gây ra chiến tranh, bài học về các lực lượng không quân và hải quân bị tiêu diệt vẫn còn giá trị. 
Thứ hai, đó là môi trường chính trị quốc tế, khi gây ra cuộc chiến tranh với Việt Nam, Trung Quốc đầu tiên sẽ phải đối mặt với sự lên án một cách gay gắt từ dư luận phương Tây và Hoa Kỳ cũng như Nhật Bản.
Không những thế, gây chiến với Việt Nam sẽ làm cho Trung Quốc không còn chỗ đứng trên trường quốc tế, các nước trên thế giới sẽ lên án Trung Quốc vì sức mạnh truyền thông nằm trong tay các nước phương Tây, và trong cuộc chiến truyền thông thì Trung Quốc hoàn toàn bị động. Cuộc chiến sẽ làm cho Trung Quốc mất dần sức mạnh và suy yếu, các lực lượng thù địch Trung Quốc sẽ thừa cơ can thiệp vào trung Quốc. 
Thứ ba, Trung Quốc phải đối mặt với vấn đề thù trong giặc ngoài. Trong khi chính trong nội bộ lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn tồn tại những vấn đề rất lớn thì bên ngoài Trung Quốc lại đang phải đối diện với một vòng vây chữ C của các nước.
Nếu Trung Quốc sử dụng những lực lượng tinh nhuệ nhất, hiện đại nhất để đối phó với Việt Nam thì ở những khu vực khác của Trung Quốc lực lượng sẽ yếu và mỏng đi, Trung Quốc sẽ đối mặt với điều cấm kỵ trong binh pháp đó là cùng một lúc phải đối mặt với hai mặt trận. Có thể dự đoán khi Trung Quốc khai chiến với Việt Nam thì Đài Loan sẽ tuyên bố độc lập ngay tức khắc, lúc đó Trung Quốc không thế nào chiến thắng được trên mặt trận Đài Loan vì Hoa Kỳ sẽ đứng sau hậu thuẫn.
Tiếp theo là Nhật Bản sẽ kiểm soát hoàn toàn quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, Trung Quốc sẽ đánh mất cơ hội kiểm soát Bắc Triều Tiên, Ấn Độ đánh chiếm khu vực tranh chấp và thôn tính miền Nam Tây Tạng...
Việc Trung Quốc không thể lấy bài học của Hoa Kỳ tại Lybia hay bài học của Nga tại Georgia bởi vì không chỉ là sức mạng quốc gia của họ mạnh hơn Trung Quốc mà với các cuộc chiến trên thì Nga và Mỹ họ đều có sự thuận lợi về yếu tố địa chính trị, họ không có những vấn đề lớn phức tạp với các nước láng giềng và sự ổn định cơ bản trong nội bộ đất nước, do đó họ không phải lo lắng từ áp lực của bên ngoài và nội bộ để có thể dành chiến thắng.
Và điểm cốt lõi quan trọng nhất trong cuộc chiến Iraq, Afghanistan bởi họ là những quốc gia sa mạc, Không quân Mỹ có thể dễ dàng oanh kích kẻ thù, trong khi đó Georgia vốn chỉ là một đồng bằng chỉ cách ba mươi sáu cây số từ Nga, vì vậy lực lượng cơ giới Nga có thể ngay lập tức cơ động đánh chiếm.
Hải quân đánh bộ Việt Nam diễn tập sẵn sàng chiến đấu.(Ảnh minh họa)
Nhưng với Việt Nam thì khác, những bài học trên không thể áp dụng được, Việt Nam được bao bọc bởi đồi và núi, Pháp, Hoa Kỳ và cả Trung Quốc đã phải nếm trải những thất bại đau đớn tại đây, một cuộc chiến với Việt Nam sẽ hết sức khó khăn, Việt Nam rất lão luyện trong chiến tranh du kích, do đó việc sử dụng tên lửa, máy bay chiến đấu là một sự ngu ngốc! Các đơn vị cơ giới sẽ bị chặn lại bởi các dãy núi, vì vậy chắc chắn chúng ta sẽ rơi vào một cuộc chiến tranh tiêu hao kéo dài, nó không phải là giữa những hy vọng của đối phương cho nó!

Hồ Trung Nghĩa (lược dịch)

Tên lửa Việt Nam “đủ sức gây hoảng loạn Trung Quốc“

22:53 |
Đăng Bởi  - 
Tên lửa Việt Nam “đủ sức gây hoảng loạn Trung Quốc“
"Việt Nam có chiến lược gì để chống lại sự áp bức của Trung Quốc?" là tựa và câu hỏi của Giáo sư Carl Thayer, một chuyên gia quân sự châu Á của Đại học New South Wales và Học viện quốc phòng Úc, trong bài viết cho trang The Diplomat ngày 28.5. Một Thế Giới xin trích dịch:
Giới truyền thông quốc tế đã có phần giảm "độ nóng" khi theo dõi cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam về sự kiện Bắc Kinh hạ đặt giàn khoan Haiyang Shiyou 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, nhưng các cuộc đối đầu hàng ngày vẫn tiếp diễn.
Tình hình hiện nay không phải là sự bế tắc. Trung Quốc đang tìm cách thay đổi nguyên trạng vùng biển bằng cách đẩy lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư Việt Nam ra bên ngoài “đường chín đoạn” vô lý mà họ đơn phương tuyên bố.
Trung Quốc đang tiến hành một cuộc “chiến tranh tiêu hao” với Việt Nam trong tư thế mạnh hơn đối phương nhiều lần. Trung Quốc dùng chiến thuật đâm va tàu Việt Nam có trọng tải nhỏ hơn từ 2 đến 4 lần tàu của mình - một chiến thuật được thiết kế để gây hư hại khiến các tàu Việt Nam cần phải vào bờ để sửa chữa.
Nếu tỉ lệ tổn thất hiện nay tiếp tục, Việt Nam có thể không có đủ tàu để tiếp tục đối đầu với Trung Quốc trong vùng nước quanh giàn khoan.
Phía Việt Nam đã hết sức thận trọng, cố giữ kín các vũ khí nhẹ trên tàu. So với việc các tàu TQ hạ bạt, khoe súng đạn,  rõ ràng cho thấy Việt Nam đang theo đuổi lập trường không khiêu khích.
Việt Nam vẫn còn để các chiến hạm và tàu ngầm của mình nằm yên trong cảng hay nằm khá xa vùng biển quanh giàn khoan.
Cốt lõi của chiến lược đang hình thành của Việt Nam là tránh trực diện đối đầu với Trung Quốc, trong một nỗ lực buộc họ phải rút giàn khoan và các tàu hải quân Trung Quốc ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Nói đúng ra, các nhà chiến lược Việt Nam chỉ tìm cách ngăn chặn các hành động tương tự của Trung Quốc trong tương lai.
Vào thời điểm này, hình như Việt Nam đang cân nhắc hai chiến lược để ngăn chặn Trung Quốc
Một là, dùng đòn bẩy của các quan hệ đồng minh giữa Mỹ với Nhật Bản và Philippines.
Hai là, trong trường hợp có xung đột vũ trang, dùng “hiểm họa hai bên chắc chắn hủy diệt lẫn nhau”.
Các quan chức Việt Nam trong các cuộc tiếp xúc đã nhấn mạnh rằng tất cả những hành động được thực thi dù theo bất cứ chiến lược nào cũng sẽ hoàn toàn minh bạch để giảm đến mức tối thiểu các tính toán sai lầm từ phía Trung Quốc.
Mục đích chính của chiến lược mới thành hình của Việt Nam là không trực tiếp đối đầu với Trung Quốc, chỉ ngăn chặn họ bằng cách tạo tình huống theo đó Trung Quốc sẽ phải hoặc là chấp nhận nguyên trạng hoặc là leo thang xung đột.
Việc này sẽ kéo theo nhiều rủi ro cho Trung Quốc, vì các lực lượng Việt Nam sẽ hoạt động bên cạnh hai đồng minh của Mỹ để theo đuổi mục tiêu của mình bằng phương cách hòa bình.
Việt Nam đã tiếp cận Nhật Bản và Philippines nhằm nỗ lực đẩy mạnh sự tương tác với các lực lượng biển của những nước này, gồm cả lực lượng cảnh sát biển và hải quân.
Mỹ sẽ giúp Việt Nam tuần tra biển bằng không quân
Việt Nam gần đây đã tham gia Sáng kiến an ninh chống phổ biến vũ khí giết người hàng loạt. Sự kiện này có thể tạo cơ hội để Mỹ trợ giúp Việt Nam phát triển khả năng giám sát vùng biển thuộc trách nhiệm của mình.
Các máy bay không vũ trang thuộc lực lượng hải giám của hải quân Mỹ, có căn cứ tại Philippines theo Hiệp định tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA) mà Mỹ và Philippines vừa ký, có thể triển khai đến Việt Nam trên cơ sở tạm thời. Chúng có thể tiến hành các phi vụ giám sát biển hỗn hợp cùng với các máy bay Việt Nam.
Nhân viên quân sự Mỹ có thể bay trên các máy bay thám thính Việt Nam với tư cách quan sát viên và ngược lại.
Các nhà phân tích dự kiến, Trung Quốc sẽ tung ra các cuộc diễu võ giương oai của hải quân trên biển biển Đông hằng năm từ tháng 5 đến tháng 8.
Đây cũng là cơ hội để Mỹ và Nhật Bản tổ chức một loạt cuộc thao diễn hải quân kéo dài và các chuyến bay giám sát biển với Việt Nam, ngay trước khi các lực lượng Trung Quốc xuất hiện.
Chi tiết của tất cả hoạt động này sẽ hoàn toàn minh bạch đối với mọi quốc gia trong khu vực, kể cả Trung Quốc.
Chiến lược gián tiếp này của Việt Nam tạo điều kiện cho Mỹ bày tỏ một cách cụ thể chính sách công khai, chống lại việc sử dụng hình thức đe dọa và chèn ép để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ.
Chiến lược gián tiếp của Việt Nam không đòi hỏi Mỹ phải trực tiếp đối đầu với Trung Quốc. Chiến lược của Việt Nam đặt gánh nặng lên vai Trung Quốc trong việc quyết định có nên hay không nên chấp nhận rủi ro do việc tấn công các đội hình quân sự hỗn hợp gồm tàu hải quân và máy bay Việt Nam hoạt động cùng với các đồng minh của Mỹ, tức Philippines và Nhật Bản, hoặc với nhân viên quân sự Mỹ.
Hải quân và không quân sẽ hoạt động trong vùng biển và vùng trời quốc tế. Mục tiêu là duy trì một sự hiện diện liên tục của hải quân, không quân để ngăn chặn việc Trung Quốc dùng đe dọa và chèn ép đối với Việt Nam.
Khả năng ngăn chặn có thể được tăng cường bằng cách trao đổi các thủy thủ đoàn và phi hành đoàn trong các cuộc diễn tập. Phạm vi và cường độ của những cuộc diễn tập này có thể thay đổi tùy theo mức độ của các căng thẳng.
Phương án phản công của Việt Nam là...?
Chiến lược ngăn chặn thứ hai mà Việt Nam có thể dùng đến là “bảo đảm hủy diệt lẫn nhau”, chỉ được áp dụng cho một tình thế nghiệt ngã khi quan hệ Việt - Trung tồi tệ đến mức trở thành xung đột vũ trang.
Mục đích của chiến lược này không phải là đánh bại Trung Quốc mà chỉ gây đủ thiệt hại vật chất và bất ổn tâm lý, khiến giá bảo hiểm của Công ty Lloyd đối với các tàu biển tăng vọt và khiến các nhà đầu tư nước ngoài hoảng hốt bỏ chạy.
Theo chiến lược này, nếu xung đột vũ trang bùng nổ, Việt Nam sẽ dành ưu tiên cho việc nhắm vào các thương thuyền và các tàu chở dầu mang cờ Trung Quốc hoạt động trong vùng cực nam biển Đông. Việt Nam hiện có tên lửa đạn đạo ven biển có thể bắn đến các căn cứ hải quân Trung Quốc trên đảo Hải Nam và đảo Phú Lâm.
Các nhà hoạch định chiến lược Việt Nam còn nêu rằng Việt Nam phải mua ngay số lượng lớn tên lửa đạn đạo có khả năng bắn đến Thượng Hải và thậm chí đến cả Hồng Kông.
Trong trường hợp có xung đột vũ trang, những thành phố này và nhiều thành phố khác có thể trở thành mục tiêu oanh tạc, nhằm gây rối loạn rộng lớn cho nền kinh tế Trung Quốc.
Việc này sẽ có một tác động toàn cầu. Các nhà chiến lược Việt Nam tin chắc rằng các cường quốc quan trọng sẽ can thiệp để chống lại hành động xâm lược của Trung Quốc.
Việt Nam cũng đang cân nhắc một chiến lược mới, gồm việc gián tiếp lôi kéo các nước khác vào cuộc đối đầu với Trung Quốc của mình.
Đây là một tín hiệu cho thấy các quan chức và các nhà chiến lược Việt Nam coi những căng thẳng hiện nay như là một chiến lược dài hạn của Trung Quốc nhằm quyết đoán địa vị bá quyền, không những tại biển Đông mà còn tại biển Hoa Đông.
Sức thu hút của một chiến lược gián tiếp, minh bạch và không khiêu khích nằm ở chỗ nó cung cấp cho Nhật Bản, Philippines và Mỹ một phương cách ngăn chặn đường lối nguy hiểm hiện nay của Trung Quốc.

Vũ khí giúp chiến hạm SIGMA Việt Nam tấn công cực hiệu quả

09:53 |
Nếu được trang bị loại đạn pháo 76mm thông minh cùng bộ kit Strales mới, chiến hạm SIGMA-9814 của Việt Nam sẽ rất lợi hại.
Theo tạp chí Navy Recognition, loại đạn pháo dẫn đường 76mm DART/STRALES mới, do công ty OTO Melara của Italia sản xuất đã vượt qua lần đầu tiên tử nghiệm thành công đầu tiên hồi cuối tháng 3/2014 vừa qua.
Cuộc thử nghiệm với đạn pháo 76mm mới được tiến hành trên khoang một chiếc tàu được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực Selex NA25 và pháo hạm Strales 76mm của Hải quân Italia.
Vũ khí giúp chiến hạm SIGMA Việt Nam tấn công cực hiệu quả - Ảnh 1

Hệ thống pháo hạm Strales 76mm do công ty OTO Merala của Italia sản xuất không những có khả năng tấn công mà còn có thể phòng thủ trước tên lửa của đối phương.

Việc bắn thử nghiệm đạn pháo mới diễn ra ở chế độ bắn nhanh, nhắm vào các mục tiêu cơ động tốc độc cao, các mục tiêu được điều khiển bằng vô tuyến ở độ cao bay thấp và rất thấp từ cự li xa đến hơn 5.000m.
Navy Recognition cho biết, các khách hàng tham gia buổi bắn thử nghiệm này đã tỏ ra rất hài lòng với kết quả thử nghiệm, qua đó khẳng định chất lượng, độ tinh cậy và hiệu quả của giải pháp hệ thống phòng thủ này.
Một quản lý cấp cao của OTO Merala bình luận rằng, kết quả thử nghiệm đạn pháo dẫn đường 76mm mới một bằng chứng rõ ràng về hiệu quả của hệ thống pháo hải quân 76mm trong vai trò như một hệ thống phòng thủ tên lửa cuối cùng trên tàu chiến nổi, đồng thời vẫn giữ và cải thiện được khả năng của một pháo hải quân đặc trưng, đó là tấn công các tàu chiến mặt nước và các mục tiêu trên bờ của đối phương.
Pháo hải quân 76mm Strales với đạn dẫn đường DART là hệ thống vũ khí duy nhất trên thế giới có thể đảm bảo hiệu suất chiến đấu cao nhất với chi phí thấp hơn nhiều lần so với các hệ thống phòng thủ tên lửa chuyên biệt khác ở trên tàu chiến, có thể tham gia tấn công đánh chặn các tên lửa siêu âm cơ động với quá tải G lớn. Hệ thống này cũng rất hiệu quả khi tấn công các tàu cao tốc cỡ nhỏ ở khoảng cách xa vài kilomet.
Vũ khí giúp chiến hạm SIGMA Việt Nam tấn công cực hiệu quả - Ảnh 2

Chiến hạm SIGMA 9814 của Hải quân Việt Nam nếu được trang bị bộ kit Strales và đạn pháo 76mm DART sẽ cải thiện được khả năng chiến đấu đáng kể.

DART là loại đạn pháo cỡ 76mm, được dẫn đường bằng một chùm sóng vô tuyến được radar trên hệ thống pháo chiếu vào mục tiêu, trên đầu đạn pháo có tích hợp hệ thống đầu dò để bám theo các mục tiêu này để tấn công ở chế độ "đuổi và đánh". Loại đạn này được tích hợp một ngòi nổ cận đích, nhưng trong lần thử nghiệm vừa qua, nó còn chứng minh được khả năng tuyệt vời hơn thế khi tấn công chạm nổ mục tiêu nhiều lần.
Pháo hải quân 76mm với bộ kit Strales có những đặc điểm tương tự như các loại đạn đạo (bay theo quĩ đạo quán tính) khi nó được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên không, trên biển và trên đất liền; với đạn Vulcano, nó sẽ đảm bảo khả năng tấn công độ chính xác cao, tầm bắn xa hơn các loại đạn thông thường 2 lần.
Được biết, hệ thống Strales có thể được lắp dặt trên pháo hải quân 76mm đang được sử dụng trên các tàu chiến hiện nay. Điều đó cũng đồng nghĩa với loại pháo hạm OTO Melara 76mm trang bị cho 2 tàu hộ tống tên lửa SIGMA 9814 của Hải quân Việt Nam tương lai cũng hoàn toàn có thể tích hợp bộ kit Strales để bắn được loại đạn thông minh này, qua đó tăng cường đáng kể được khả năng tấn công lẫn phòng thủ trước các mối đe dọa của đối phương.
Hiện tại, công ty OTO Melara cũng dang lên kế hoạch sản xuất các bộ kit Strales và rất nhiều đạn pháo mới để cung cấp cho các khách hàng. Trong đó bao gồm 12 hệ thống Strales đang hoạt động, 15 hệ thống sắp được cung cấp và 30 hệ thống khác được lên kế hoạch sản xuất trong 5 năm tới.
Theo Đất Việt

Tiềm lực quân sự Việt Nam đứng top 25 thế giới

09:49 |
Website danh tiếng Global Firepower đã công bố bảng xếp hạng và các chỉ số đo lường quân sự của 106 nước trên thế giới - Global Firepower’s 2014 Power Index - và bất ngờ khi Việt Nam lọt top 25 nước có tiềm lực quân sự mạnh nhất thế giới.
Dựa trên 50 khía cạnh thu thập được từ CIA, báo cáo truyền thông, có ý nghĩa quyết định về khả năng đương đầu với chiến tranh theo kiểu truyền thống trên các mặt trận như các yếu tố liên quan đến tài nguyên, tài chính, sức mạnh hải quân, hậu cần, dân số… Global Firepower lấy làm căn cứ để đo lường sức mạnh quân sự của mỗi nước.
Cũng theo Global Firepower, thì tất cả các chỉ số đều được quy ra điểm (PwrIndx). Điểm “PwrIndx” lý tưởng là 0,0000.
Dẫn đầu bảng xếp hạng là Mỹ với số điểm là 0,2208. Nga xếp thứ hai và Trung Quốc xếp thứ ba với số điểm lần lượt là: 0,2355 và 0,2594.

Tiềm lực quân sự Việt Nam đứng top 25 thế giới - Ảnh 1

Việt Nam đứng thứ 23 trong số 106 nước về sức mạnh tiềm lực quân sự.

Việt Nam đứng thứ 23 với số điểm 0,8962, cao hơn một số nước trong khu vực như Malaysia (1,3143 điểm), Philippines (1,3042), Thái Lan (0,9287).
Theo như số liệu Global Firepower lấy làm căn cứ để đánh giá, thì Việt Nam được xem là nước có số tiền đầu tư cho quốc phòng khá lớn, khoảng 3,4 tỉ USD, là nước đang sở hữu 3.200 xe tăng, 413 phi cơ (209 máy bay chiến đấu, 141 máy bay lên thẳng), sở hữu 65 tàu chiến, 2.100 phương tiện có khả năng chiến đấu và 1.300 hệ thống rocket.
Ngoài ra Việt Nam cũng được đánh giá là nước có lực lượng dự phòng khá lớn với hơn 41 triệu người phù hợp để phục vụ quân sự trên tổng số hơn 92 triệu dân.
Tuy nhiên, những yếu tố như vũ khí, hạt nhân hay chế độ lãnh đạo không được tính đến trong bảng xếp hạng của Global Firepower, và được trang này lý giải là để cho phép so sánh một cách cân bằng giữa những nước nhỏ, nhưng có công nghệ tiên tiến với những nước lớn nhưng không đầu tư nhiều vào quân sự.

Theo Lao động

Báo Canada: “Việt Nam nắm được tử huyệt của hải quân Trung Quốc”

08:10 |
Bài viết ngày 25/4 của Tạp chí Quốc phòng Hán Hòa (Kanwa) Canada cho biết, việc Trung Quốc xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân chiến lược (SSBN/SSN), tàu sân bay Liêu Ninh tại đảo Hải Nam là một "sai lầm chết người".
Tiêm kích đa năng Sukhoi Su-30 MKV2.
Theo lý giải của tờ Hán Hòa, toàn bộ căn cứ trên đảo Hải Nam này nằm gọn trong tầm khống chế của các lực lượng tấn công dưới nước, trên bộ tương đối mạnh mà Hải quân Việt Nam đang sở hữu.
Tuyên bố giật gân trên Hán Hòa rằng trong năm 2014, Việt Nam đã nhận được hai tàu ngầm Kilo-636MV (Đề án 636.1), với những máy bay hiện có cùng tàu ngầm Kilo, xét trên lý thuyết, thì lực lượng quân sự này đủ khả năng để phong tỏa căn cứ tàu ngầm Trung Quốc trên đảo Hải Nam.
Bên cạnh việc đặt căn cứ hải quân và tàu sân bay ở đảo Hải Nam chỉ cách bờ biển Việt Nam dưới 272 km, thì hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển mới của Việt Nam Bastion-P với tầm tiêu diệt hiệu quả trong phạm vi bán kính 300 km sẽ khiến tàu sân bay không thể rời cảng.
Ngoài ra, Tạp chí Hán Hòa còn cho biết các máy bay chiến đấu Su-22, Su -30MKV/MK2 cũng có thể tập kích hiệu quả căn cứ tàu sân bay và căn cứ tàu ngầm hạt nhân chiến lược của Trung Quốc tại đây. Cũng cần phải lưu ý rằng, quân đội Việt Nam đã bắt đầu trang bị một loại tàu ngầm mini tự chế, và đây là một bước tiến lớn của quân đội Việt Nam.
Căn cứ của Hải quân Trung Quốc trên đảo Hải Nam.
Hán Hòa cũng cho biết thêm rằng chỉ với một số lượng nhỏ tên lửa đạn đạo Scud-C, là đủ để có thể thổi bay toàn bộ đảo Hải Nam.
Với tình hình hiện trạng như hiện nay thì căn cứ tàu ngầm khổng lồ và tàu sân bay trên đảo Hải Nam đã trở thành một tử huyệt mà Việt Nam đã nắm bắt được, từ nay trở đi khi Trung Quốc giải quyết các vấn đề quan trọng trong mối quan hệ với Việt Nam, họ đã và sẽ phải khá thận trọng.
Tổ hợp tên lửa Bastion-P
Đặc biệt là ở vùng biển đang có tranh chấp, một trong những lý do chính mà cho đến nay Trung Quốc vẫn chưa thành lập Khu vực nhận diện Phòng không (ADIZ) trên Biển Đông chính là thái độ thận trọng. Tàu sân bay, căn cứ tàu ngầm hạt nhân chiến lược của một quốc gia lại được xây dựng trong tầm ngắm của một trong những "đối thủ tiềm năng", với các loại vũ khí công nghệ cao thì đây là một đòn chí tử đối với Trung Quốc.

Đánh giá chiến lược pháp lý của Trung Quốc ở Biển Đông

08:03 |
Mục tiêu của Bắc Kinh: duy trì hòa bình và ổn định khu vực, trong khi thúc đẩy các yêu sách bành trướng. Liệu họ có thể thành công?
Lời dẫn: Bài viết gồm 2 phần của Sean Mirski đánh giá các chiến lược pháp lý của một số nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông trong bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn. Dưới đây, Sean Mirski xem xét chiến lược của Trung Quốc được thúc đẩy như thế nào bởi những mong muốn trái ngược là vừa duy trì ổn định khu vực lại vừa củng cố quyền kiểm soát trên toàn bộ Biển Đông.

Sean Mirski là sinh viên năm thứ hai tại Trường Luật Harvard, nơi ông làm Trưởng nhóm phụ trách mục Tòa án tối cao của tờ Harvard Law Review. Ông cũng là đồng chủ biên cuốn sách: Trọng tâm của Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ và trật tự mới đang lên của thế giới (Crux of Asia: China, India and the Emerging Global Order).



Mục tiêu của Bắc Kinh: duy trì hòa bình và ổn định khu vực, trong khi thúc đẩy các yêu sách bành trướng. Liệu họ có thể thành công?

>> Có thể bóp chết Trung Quốc bằng phong tỏa đường biển?
Từ nhiều thế kỷ trước, ngư dân Trung Quốc gọi các hòn đảo ở Biển Đông là “những bãi đá nam châm” (từ thạch đường) - một tên gọi ám chỉ sức mạnh bí ẩn cuốn hút những con tàu có số phận hẩm hiu đến những bãi cát ngầm ở đây. Tuy nhiên, ngày nay, Biển Đông lại lôi kéo sự chú ý bởi một thứ rắc rối khác. Trong 6 thập kỷ qua, Biển Đông là trung tâm của một tình trạng rối loạn địa-chính trị bị kích động thúc đẩy bởi quan hệ chính trị giữa các đại cường, chủ nghĩa dân tộc độc hại và trữ lượng dầu khí dồi dào. Sáu bên khác nhau là Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam liên tục tranh chấp chủ quyền các hòn đảo trên Biển Đông và các vùng biển đó.

Trong 6 bên tranh chấp nói trên, Trung Quốc đã trở thành đối thủ nặng ký nhất. Đây là quốc gia tranh chấp có lãnh thổ rộng lớn và hùng mạnh nhất, và cũng là bên đưa ra những yêu sách mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, hành vi của Bắc Kinh không phải lúc nào cũng phản ánh sức mạnh và tham vọng đang bành trướng của họ. Thay vào đó, chiến lược của Trung Quốc phức tạp hơn, được hình thành chủ yếu bởi mong muốn của Bắc Kinh duy trì hòa bình và ổn định khu vực, trong khi vẫn tiếp tục thúc đẩy những yêu sách bành trướng của họ.

Tình thế lưỡng nan này đã khiến Trung Quốc tập trung vào việc trì hoãn giải quyết xung đột, điều được chứng minh rõ ràng nhất trong chiến lược pháp lý của họ. Nhưng chiến lược này trong những năm gần đây ngày càng trở nên không còn phù hợp khi Trung Quốc trở thành nạn nhân của sự thành công của chính họ. Các bên tranh chấp khác đã nhận ra việc chơi theo các luật chơi của Trung Quốc là nguy hiểm, vì vậy, họ đã chọn cách đối phó với chiến lược trì hoãn của Trung Quốc bằng một tư thế chủ động hơn nhằm thúc đẩy Bắc Kinh phải dừng dây dưa, lòng vòng để đối diện trực tiếp với tình thế lưỡng nan của họ. Trung Quốc đã tìm cách ứng phó và phản ứng của họ đã làm gia tăng căng thẳng trong cả khu vực vì không làm thay đổi được những tính toán của các đối thủ. Trong khi tranh chấp leo thang, Trung Quốc có thể cảm thấy áp lực nổi lên nhằm buộc họ phải từ bỏ chiến lược trì hoãn và tìm kiếm một giải pháp nhanh chóng hơn cho cuộc xung đột này, như các sự kiện đang diễn ra bắt đầu bộc lộ.

Các lợi ích chiến lược đầy mâu thuẫn của Trung Quốc
Trỗi dậy hòa bình 
Để hiểu được tình thế nan giải của Bắc Kinh, ta hãy xem xét các lợi ích chiến lược đầy mâu thuẫn của họ. Một mặt, Trung Quốc tìm cách kéo dài chuỗi tăng trưởng nhiều thập kỷ của họ. Các số liệu thống kê quen thuộc: nền kinh tế phát triển bùng nổ với tốc độ trung bình hàng năm gần 10% trong 35 năm qua, và trong thời gian đó, kinh tế Trung Quốc đã có 5 lần tăng trưởng gấp đôi về quy mô. Kể cả khi tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm lại phần nào, thì nền kinh tế Trung Quốc vẫn có khả năng và thực ra là gần như chắc chắn sẽ vượt qua kinh tế Mỹ trong tương lai gần.

Nhưng, xét về địa-chính trị, sự tăng trưởng của Trung Quốc là tương đối khác thường. Thay vì tuân theo biện chứng của Charles Tilly là “nhà nước tạo ra chiến tranh” và “chiến tranh tạo ra nhà nước”, Bắc Kinh lại tự tham dự vào trật tự kinh tế tự do quốc tế. Khi nhìn lại, quyết định này đã chứng minh lời tiên tri: Trung Quốc bắt đầu khởi sắc kể từ khi nó kết nối vào quá trình toàn cầu hóa do Mỹ đứng đầu.

Tuy nhiên, sự phụ thuộc lẫn nhau trong kinh tế quốc tế không phải bỗng dưng mà có. Để tạo ra sự thần kỳ về thương mại, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế cần một môi trường bên ngoài tương đối hòa bình. Các cuộc xung đột có thể phá vỡ tan tành các mối quan hệ kinh tế vốn là trung tâm của một hệ thống thương mại mở và đẩy Trung Quốc cách xa khỏi các đối tác thương mại quan trọng, kể cả khi bản thân Bắc Kinh tìm cách tránh không dính líu vào. Tồi tệ hơn cả là bất kỳ một cuộc xung đột nào trong khu vực cũng có thể tạo ra cho Mỹ cơ hội có thêm nhiều hơn nữa quyền lực chính trị và quân sự trong khu vực - một mối đe dọa đối với tham vọng lâu dài nhằm giành ưu thế (nếu không phải là quyền bá chủ) trong khu vực.

Vì thế, để tiếp tục phát triển, Trung Quốc cần một châu Á ổn định và hòa bình. Do đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố khái quát chính sách của họ trong các ngôn từ “trỗi dậy hòa bình” hoặc “phát triển hòa bình”. Chiến lược này không phải là lời nói suông: Trong ba thập kỷ qua, Bắc Kinh đã dàn xếp được nhiều tranh chấp biên giới; xúc tiến hoạt động ngoại giao khu vực khéo léo; tích cực tham gia vào các tổ chức liên chính phủ khu vực và quốc tế; và ký kết các hiệp định thương mại cùng có lợi trên khắp thế giới. Quả là chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Trung Quốc cũng đã hành xử khá ổn trong lĩnh vực quân sự: Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh gần đây nhất là vào năm 1979, kể từ đó họ chỉ tham gia vào một cuộc đụng độ nhỏ ở Biển (đảo Gạc Ma năm 1988 Johnson South Reef). Tóm lại, Trung Quốc đã cố gắng trở thành một công dân gương mẫu của khu vực, tất cả là nhằm phục vụ các tham vọng kinh tế của họ.

Kiểm soát Biển Đông
Trong khi tham vọng lâu dài của Bắc Kinh khiến họ phải kiềm chế, thì các mục tiêu gần hơn của họ, trong đó có việc giành chủ quyền đối với Biển Đông, lại dẫn dắt nước này đi theo một hướng khác. Trong thế giới lý tưởng của Bắc Kinh, Trung Quốc ngay bây giờ sẽ phải là ông chủ không thể tranh cãi của Biển Đông.
Bắc Kinh tìm cách kiểm soát Biển Đông Nam Á để ứng phó với các mối đe dọa an ninh quốc gia và thúc đẩy các mục tiêu kinh tế của họ. Biển là một điểm yếu chiến lược của Trung Quốc vì đó là tuyến đường xâm lược trong lịch sử và là một mối đe dọa hiện hữu đối với an ninh năng lượng và nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Trung Quốc. Kiểm soát được Biển Đông còn mạng lại nhiều lợi ích hữu hình. Biển Đông có trữ lượng cá dồi dào vốn là trụ cột của nhiều nền kinh tế trong khu vực. Dưới đáy đại dương, còn có những tài sản còn giá trị hơn. Mặc dù các chuyên gia có ý kiến khác nhau về quy mô của kho của cải tiềm tàng dưới đáy biển, tất cả đều nhất trí rằng, ở đó trữ lượng dầu mỏ và khí đốt đủ để bất kỳ quốc gia nào tiếp giáp ở đó đều muốn chiếm hữu.

Những yêu cầu chiến lược này được củng cố bởi tình hình chính trị trong nước của Trung Quốc. Tranh chấp biển đã trở nên đan xen chặt chẽ với chủ nghĩa dân tộc của người Trung Quốc. Kết quả là Biển Đông không chỉ có ý nghĩa về mặt chủ quyền, mà còn xác định căn tính của Trung Quốc với tư cách một quốc gia. Và rắc rối hơn nữa là mọi hành động từ bỏ các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc cũng sẽ gợi lại liên tưởng bất lợi về sự yếu kém của Trung Quốc trước các đế quốc hung hãn trong giai đoạn gọi là “thế kỷ sỉ nhục” của đất nước này. Vì vậy, ngay cả khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn từ bỏ các yêu sách ở Biển Đông, họ vẫn sẽ bị áp lực không làm thế do các phản ứng dữ dội tất yếu ở trong nước. Thay vì thỏa hiệp, Bắc Kinh cảm thấy ngày càng bị áp lực bởi một công chúng dân tộc chủ nghĩa để phải hành động quả quyết trong quan hệ với các bên tranh chấp khác.

Tình thế lưỡng nan của Trung Quốc
Như vậy, các lợi ích chiến lược của Trung Quốc thường mâu thuẫn với nhau. Một mặt, Bắc Kinh muốn giải quyết tranh chấp trên Biển Đông càng nhanh chóng và hòa bình càng tốt. Tranh chấp đã cản trở việc hội nhập khu vực sâu rộng hơn, và trong những năm gần đây, Trung Quốc đã nổi tiếng vì cách hành xử hiếu chiến, vốn đã làm nguội lạnh các mối quan hệ trong khu vực của họ. Tuy nhiên, mặt khác, Trung Quốc cũng không hề muốn mất quyền kiểm soát một khu vực chiến lược quan trọng như vậy. Trung Quốc cũng bị trói buộc bởi một công chúng đầy tinh thần dân tộc chủ nghĩa và thường là hiếu chiến luôn nghi ngờ bất kỳ hành vi nào được coi là nhượng bộ hoặc yếu đuối nào về phía Trung Quốc. Tóm lại, Trung Quốc có thể cố gắng giải quyết tranh chấp thông qua thỏa hiệp hoặc xâm lược, nhưng chẳng lựa chọn nào là hấp dẫn cả.

Vì vậy, thay vì cố gắng giải quyết xung đột, Bắc Kinh đã né tránh và áp dụng chiến lược trì hoãn. Bị kẹt giữa các lợi ích chiến lược trái ngược nhau, Trung Quốc đã tìm cách duy trì sự kiểm soát vừa đủ để bảo vệ các yêu sách của họ mà không tạo ra sự khống chế quá lớn khiến các bên tranh chấp khác trở nên lo ngại. Vì vậy, trong khi Trung Quốc sẽ luôn bảo vệ các yêu sách của mình chống sự vi phạm hung hăng của các quốc gia khác, nước này thường tìm cách tránh làm mất ổn định hiện trạng. Tất nhiên, chiến lược trì hoãn cũng nhằm tận dụng ưu thế lớn nhất của Trung Quốc: một sức mạnh đang bành trướng và con đường tăng trưởng lâu dài. Trung Quốc cần gì phải cố giải quyết xung đột vào lúc này, khi mà vị thế đàm phán của họ ngày một cải thiện?

Chiến lược pháp lý của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp trên Biển Đông
Ví dụ tốt nhất cho chiến lược trì hoãn trong thực tế chính là chiến lược pháp lý của Trung Quốc. Chiến lược này là sự kết hợp cẩn thận giữa các các nội dung yêu sách pháp lý và chiến thuật đàm phán, tất cả đều nhằm giữ nguyên hiện trạng, trong khi vẫn duy trì sự linh hoạt tối đa trong tương lai.

Trung Quốc đã bám chặt lấy cách diễn giải mơ hồ như một trụ cột chủ chốt trong chiến lược pháp lý của họ. Ngay cả hiện nay, sau nhiều thập kỷ tranh cãi, phạm vi các yêu sách của Trung Quốc vẫn chưa rõ ràng. Trong thực tế, Trung Quốc chỉ mới khuấy động vùng biển trong những năm gần đây khi họ chính thức đưa ra cái gọi là “đường chín đoạn” đầy tai tiếng. Năm 2009, Malaysia và Việt Nam đã nộp bộ hồ sơ chung đến cơ quan LHQ nhằm xác định ranh giới bên ngoài của các tuyên bố thềm lục địa của mình. Ngay hôm sau, Trung Quốc đã đáp trả bằng một văn bản phản đối tuyên bố của hai nước nói trên. Văn bản của phía Trung Quốc khẳng định một cách khá mập mờ rằng, “ Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, và có các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan, cũng như thềm lục địa và cả lòng đất ở dưới đáy biển (xem bản đồ đính kèm)”. Tấm bản đồ đính kèm cho thấy, một đường chín đoạn bắt đầu từ bờ biển của Trung Quốc và bao gồm gần như toàn bộ Biển Đông. Kể từ đó, các quốc gia và các nhà bình luận đều tự hỏi, nếu quả thật có ý nghĩa gì đó, thì thực ra đường chín đoạn chỉ cái gì vậy? Có vẻ khá rõ là Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với tất cả các hòn đảo nằm trong ranh giới mênh mông của đường chín đoạn. Tuy nhiên, điều kém rõ ràng hơn là họ có đòi chủ quyền đối với toàn bộ vùng biển bao quanh bởi đường chín đoạn ấy hay không.

Đòi hỏi điều này sẽ là sự vi phạm trắng trợn các nghĩa vụ quốc tế của phía Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế, các quốc gia bị ràng buộc bởi nguyên tắc “la terre domine la mer” (đất thống trị biển), tức nguyên tắc chủ quyền đối với vùng biển phải xuất phát từ chủ quyền đối với đất ở gần đó, chứ không phải là ngược lại. Phù hợp với nguyên tắc này, Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) cho phép các quốc gia kiểm soát vùng biển nội thủy chỉ trong một khoảng cách nhất định tính từ lãnh thổ chủ quyền của họ. Ngay cả dưới cách diễn giải rộng rãi nhất đối với UNCLOS, thì Bắc Kinh cũng không thể đòi hỏi một cách hợp pháp quyền kiểm soát phần lớn vùng biển được bao bọc bởi đường chín đoạn.

Đặc biệt là ở Mỹ, nhiều nhà bình luận cho rằng, Trung Quốc diễn giải đường chín đoạn quá bành trướng. Nhưng Bắc Kinh chưa bao giờ chính thức làm rõ cách diễn giải nào họ muốn áp dụng. Sự từ chối của họ thật ngạc nhiên, nhất là vì gần như tất cả các nhà bình luận về cuộc tranh chấp ở Biển Đông, kể cả một số học giả Trung Quốc, đã hối thúc Trung Quốc làm rõ những yêu sách pháp lý mơ hồ của họ.

Thay vào đó, chính phủ Trung Quốc cố tình áp dụng chính sách pháp lý mơ hồ có ý đồ về phạm vi các yêu sách lãnh thổ của mình. Sự “mơ hồ chiến lược” chỉ là một khía cạnh của chiến lược trì hoãn lớn hơn của Trung Quốc. Đường chín đoạn tạo ra các không gian pháp lý cho những cách diễn giải bành trướng hơn của các yêu sách trong tương lai của Trung Quốc, nhưng họ không nhất thiết phải nói ra rõ ràng ngay vào lúc này. Kết quả là Trung Quốc giữ được sự linh hoạt một cách lâu dài, trong khi vẫn tránh được những trả giá ngắn hạn cho việc thúc đẩy các yêu sách không thực tế. Tất nhiên, ngay cả một chính sách mơ hồ chiến lược cũng có cái giá của nó - vì dựa vào đường chín đoạn, Trung Quốc đã bị chỉ trích khắp nơi, gần đây nhất là Mỹ. Nhưng việc Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận những cái giá này là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy sự miễn cưỡng của họ trong việc lựa chọn dứt khoát chính sách hoặc là thỏa hiệp hoặc là xâm lược.

Chiến lược trì hoãn của Trung Quốc cũng ảnh hưởng đến cách thức Trung Quốc đàm phán về các yêu sách pháp lý của họ. Trước hết, Trung Quốc đã cố hết sức để tránh việc giải quyết xung đột. Trong khi, họ đã chính thức cam kết giải quyết vấn đề một cách hòa bình, trên thực tế Bắc Kinh lại không ngừng cổ vũ cho chính sách “hợp tác cùng khai thác”, theo đó các bên tranh chấp trì hoãn giải quyết các tranh chấp chủ quyền cho đến khi các điều kiện “chín muồi”. Cho đến lúc đó, tất cả các bên nên cùng nhau hợp tác khai thác các nguồn tài nguyên trên Biển Đông. Mặc dù, cách tiếp cận này hầu như chẳng dụ dỗ được ai, nó vẫn cho phép Trung Quốc tránh được tình thế lưỡng nan của mình khi được áp dụng: Bắc Kinh có thể thúc đẩy hòa bình trong khu vực, trong khi vẫn khai thác được các nguồn tài nguyên của Biển Đông và giữ nguyên các yêu sách chủ quyền của họ.

Một chiến thuật đàm phán khác là Bắc Kinh luôn đòi giải quyết tranh chấp trên Biển Đông trên cơ sở song phương. Theo sự khôn ngoan thông thường, Trung Quốc muốn thương lượng tay đôi chứ không muốn đàm phán đa phương bởi vì Trung Quốc có thể dễ dàng hơn dùng sức mạnh để gây áp lực với một đối tác đàm phán duy nhất. Nhưng đàm phán song phương cũng đem lại một lợi ích khác mà có lẽ còn quan trọng hơn là nó cho phép Bắc Kinh kiểm soát nhịp độ đàm phán. Ngược lại, các cuộc đàm phán đa phương khiến các bên tranh chấp khác dễ thỏa thuận với nhau hơn để buộc Trung Quốc phải hành động. Ngay cả khi đã không thể ngăn chặn các bên khác có thỏa thuận riêng, thì Trung Quốc cũng đã cản trở tiến trình đàm phán bằng cách thu phục từng quốc gia riêng lẻ và lợi dụng những chia rẽ nội bộ.

Chiến lược pháp lý của TQ tỏ ra ngày càng không phù hợp
Trong nhiều năm, cách phản ứng của TQ tỏ ra rất hiệu quả. Từ giữa thập niên 1990 đến đầu thập niên 2000, TQ và các bên tranh chấp khác ưu tiên tôn trọng luật pháp quốc tế và ngoại giao cả trong lời nói và việc làm. Tuy nhiên, vào giữa những năm 2000, các bên tranh chấp khác, đặc biệt là Việt Nam và Philippines, đã nhận ra là họ là bên thua cuộc trong chiến lược trì hoãn của TQ. Nếu họ chơi theo các điều kiện của TQ, họ sẽ tiếp tục thua. Vì vậy, họ đã thay đổi các quy tắc của trò chơi.

Các bên đã tiếp tục sử dụng những lời lẽ như trước đây, nhưng họ đã bắt đầu thay đổi hành vi đằng sau những lời lẽ này. Thay vì nhấn mạnh nội dung của luật, các bên tranh chấp nhỏ hơn, đặc biệt là Philippines và Việt Nam, đã hoàn thiện một chiến lược mới, nhưng vô cùng mạo hiểm là: đẩy TQ vào thế đối đầu với tình trạng tiến thoái lưỡng nan của chính mình. Manila và Hà Nội đều biết rằng, họ không thể hy vọng buộc được TQ phải từ bỏ tất cả các yêu sách của mình, nhưng họ tính là họ có thể ép TQ có những nhượng bộ đáng kể chừng nào Bắc Kinh còn tiếp tục dao động giữa hai chủ trương xâm lược và thỏa hiệp. Vì thế, trong thập kỷ qua, Philippines và Việt Nam đã cố gắng gây áp lực với TQ bằng cách thay đổi thực tế trên thực địa và quốc tế hóa cuộc xung đột. Bằng cách áp dụng chiến thuật chủ động hơn, hai nước này hy vọng TQ sẽ buộc phải đưa ra một quyết định rõ ràng hoặc là phản ứng cứng rắn và sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chiến lược tăng trưởng dài hạn của nước này, hoặc là chấp nhận nhượng bộ một số điểm trong cuộc tranh chấp. Philippines và Việt Nam đang hy vọng TQ sẽ lựa chọn giải pháp nhượng bộ.

Thoạt đầu, TQ đã mất cảnh giác trước chiến lược mới của Manila và Hà Nội, nhưng sau đó họ nhanh chóng tỉnh ngộ và đưa ra một chiến lược mới, hai gọng kìm. Như Peter Dutton đã chỉ ra, gọng kìm đầu tiên của TQ nhấn mạnh sự cưỡng ép phi quân sự. Với tư cách một phần của chiến lược này, TQ đã làm tràn ngập Biển Đông bằng một bầy những con tàu “vỏ trắng”, tức các tàu thuộc sở hữu của các cơ quan hàng hải dân sự TQ. Những con tàu này sau đó được sử dụng để đẩy lùi các bên tranh chấp khác, ví dụ, như bằng cách bắt giữ ngư dân nước ngoài hoặc cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí. Gần đây nhất, Bắc Kinh đã hạ đặt một giàn khoan dầu ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam, tất nhiên là nó được bảo vệ bởi một hạm đội tàu vỏ trắng. Với tư cách một phần của chiến lược này, TQ cũng còn sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để “gây trở ngại” khiến các nhà đầu tư quốc tế không dám mạo hiểm vào vào vùng biển rắc rối này của khu vực.

Để triển khai gọng kìm thứ hai, Bắc Kinh tiếp tục mở rộng và tăng cường năng lực cho hải quân của họ. Những năng lực này sau đó được sử dụng hầu như chỉ nhằm mục đích răn đe; TQ không muốn dính líu vào cuộc xung đột trực tiếp mà tìm cách đặt ra một giới hạn cho việc cưỡng chế phi quân sự của gọng kìm thứ nhất và ngăn không để nó vượt khỏi tầm kiểm soát. Kết quả là khi các tàu Philippines đối mặt với các tàu hàng hải dân sự TQ thì họ luôn biết rằng, chắc chắn Hải quân TQ cũng đang ẩn nấp đâu đó ngay ngoài tầm mắt của họ.

Kết hợp lại, hai gọng kìm này cho phép TQ phản ứng mạnh mẽ với các hành động khiêu khích của các bên tranh chấp khác, trong khi vẫn kiềm chế khả năng leo thang. Một lần nữa, mục tiêu lại là dung hòa các lợi ích chiến lược đầy mâu thuẫn của TQ: Bắc Kinh bảo vệ các yêu sách của họ thông qua các biện pháp dân sự đôi khi khá hung hăng, nhưng lại ngăn chặn không để cuộc tranh chấp gây nguy hiểm cho sự phát triển lâu dài của mình bằng cách đảm bảo rằng, súng vẫn nằm yên trong bao.

Khi thực hiện chiến lược mới này, TQ đôi khi phản ứng với các hành động của các bên tranh chấp khác chỉ đơn thuần bằng hành động đối nghịch tương ứng; tuy nhiên, gần đây hơn, TQ đã bắt đầu không chỉ đáp lại mà còn leo thang khi tạo thêm áp lực lên các bên tranh chấp khác để buộc họ lùi bước. Ví dụ, sau khi một tàu hải quân Philippines bắt giữ ngư dân TQ ở gần bãi cạn Scarborough vào tháng 4/2012, TQ đã đưa đến đây nhiều tàu dân sự của họ. Bế tắc kéo dài trong 2 tháng cho đến khi Hoa Kỳ làm trung gian cho việc rút lui của cả hai bên. Trong khi Philippines nghiêm chỉnh rút lui, TQ nuốt lời và vẫn để lại tàu của họ. Một tháng sau, quân đội TQ đã chặn lối vào bãi cạn này  và các tàu TQ đã liên tục tuần tra ở vùng biển này từ đó đến nay.

Sự đối đầu căng thẳng tại bãi cạn Scarborough là sự leo thang rất hiếm thấy trong lịch sử về phía TQ: Trên thực tế, Bắc Kinh đã giành lấy quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough để phản ứng với việc Philippines xua đuổi ngư dân TQ. Nhưng ở các khía cạnh khác, phản ứng của TQ không có gì là quá bất ngờ. Phản ứng với các hành động khiêu khích của các bên tranh chấp khác, Bắc Kinh phải đi dây giữa việc sử dụng quá ít sức mạnh (khiến các quốc gia khác trở nên mạnh dạn hơn) và ứng xử quá mạnh (và tạo ra bộ mặt của một kẻ côn đồ trong khu vực). Xét về tổng thể, TQ đã không thể duy trì sự cân bằng này, có lẽ là vì một phản ứng được điều chỉnh hoàn hảo là điều không thể có được. Kết quả là dư luận trong khu vực đã lên án TQ một cách mạnh mẽ.

Dẫu sao thì điều đã làm cho câu chuyện Scarborough bộc lộ rõ ràng nhất chỉ xảy ra nhiều tháng sau khi TQ củng cố quyền kiểm soát ở bãi cạn này. Ngày 22/1/2013, Philippines bắt đầu vụ kiện ra trọng tài quốc tế về yêu sách của TQ theo Công ước về Luật Biển của LHQ (UNCLOS). Ở một khía cạnh nào đó, vụ kiện này có vẻ ít quan trọng. TQ đã từ chối tham gia vụ kiện, do đó, vụ kiện này có thể dễ dàng bị gạt qua một bên vì thiếu thẩm quyền. Nhưng ngay cả khi vụ kiện này thực hiện được, và thậm chí nếu kết quả là Manila thắng kiện, thì sau đó Bắc Kinh cũng chỉ cần lờ đi quyết định của tòa và chờ cho làn sóng chỉ trích quốc tế qua đi. Bất kỳ kết quả nào của vụ kiện cũng sẽ không thể được thực hiện một cách hiệu quả.

Tuy nhiên, mặc dù vụ kiện này chẳng có nhiều ý nghĩa thực tế, nhưng TQ đã điên cuồng ngăn chặn dù không thành công để ngăn không cho nó được tiến hành. Vào tháng 1/2014, Bắc Kinh đã cho thấy mức độ tuyệt vọng cao hơn, và được cho là đã đề nghị rút lui các con tàu của họ khoi bãi cạn Scarborough nếu Philippines đồng ý trì hoãn việc nộp chứng cứ của mình vào hồ sơ vụ kiện này. Mặc dù đề nghị đó cũng chỉ nên được xem xét với sự nghi ngờ, vì rõ ràng là Bắc Kinh đã không giữ lời hứa của mình trong những giao dịch liên quan đến bãi cạn này trước đó - thì đây vẫn là một đề nghị bất thường nếu quả thật thông tin này là đúng: TQ sẵn sàng từ bỏ quyền kiểm soát lãnh thổ mà họ tuyên bố chủ quyền chỉ để tránh một chút tiếng xấu. Vì vậy, mặc dù đã thắng trong trận chiến giành bãi cạn Scarborough, TQ có thể đã thua cả cuộc chiến tranh tất cả là vì Manila đã tìm ra cái mà Bắc Kinh quý trọng hơn cả chủ quyền lãnh thổ: danh tiếng là một quốc gia biết tuân thủ luật pháp quốc tế. Đối với TQ, danh tiếng này có liên quan mật thiết đến chiến lược phát triển dài hạn của họ, và quốc gia này không thể để người khác rêu rao việc họ hoàn toàn phớt lờ luật pháp quốc tế của mình.

Biến cố mới nhất trong cuộc đối đầu tại bãi cạn Scarborough đã phát lộ những giới hạn trong chiến lược mới của TQ. Chiến thuật thẳng thừng của TQ đã có một số thành công, và trong tương lai, Manila có thể sẽ phải suy nghĩ thật kỹ trước khi khơi mào một cuộc thách thức về hòn đảo tranh chấp. Nhưng chiến lược của TQ đã không thể vĩnh viễn làm thay đổi các tính toán tổng thể của các bên tranh chấp khác. Mỗi khi răn đe thành công một loại khiêu khích thì TQ cũng đồng thời kích thích các bên khác leo thang thông qua loại hành động khác. Kết quả là cả hai lựa chọn trong tình thế lưỡng nan của TQ đều đang bị đe dọa: chiến lược phát triển lâu dài của TQ đang ngày càng bị hủy hoại trong khi quốc gia này ngày càng phải đối mặt với những mối đe dọa đối với các yêu sách lãnh thổ của mình.

Tồi tệ nhất là tình thế của TQ trong tương lai sẽ khó có thể được cải thiện. Động lực mà TQ có được do sự tương tác của chiến lược của họ với các bên tranh chấp khác vốn không ổn định; việc chống lại một hành động khiêu khích chỉ dẫn đến một hành động khiêu khích lớn hơn ở một nơi khác. Đến lúc nào đó, Bắc Kinh có thể thấy rằng, họ phải nghiến rằng và chọn lấy một trong hai lựa chọn cực kỳ khó khăn: hoặc leo thang tranh chấp thành một cuộc xung đột hải quân và xem xét những gì sẽ xảy ra trong khu vực, hoặc phải nhượng bộ vùng lãnh thổ có giá trị chiến lược như Bắc Kinh có thể đã làm bốn tháng trước, và sẽ phải đối mặt với khả năng bất ổn trong nước. TQ sẽ làm tất cả những gì có thể để trì hoãn việc lựa chọn này, nhưng sớm muộn gì, TQ cũng phải đi đến quyết định.
Nguồn: Từ Thạch Đường: Đánh giá chiến lược pháp lý của Trung Quốc ở Biển Đông (Magnetic Rocks: Assessing China's Legal Strategy in the South China Sea) / Sean Mirski // The National Interest, 19.5.2014 (Vũ Thị Phương Anh dịch TS, 21.5.2014).

Tử huyệt của phòng không Trung Quốc

08:00 |
Mỹ biết tỏng các điểm yếu của hệ thống phòng không Trung Quốc

Mấy ngày sau khi Trung Quốc thông báo lập vùng nhận dạng phòng không vào ngày 23/11/2013, trên biển Hoa Đông đã xuất hiện 2 máy bay ném bom В-52 của Không quân Mỹ (USAF), điều đã trở thành vấn đề đối với hệ thống phòng không Trung Quốc.

Một cựu nhân viên USAF cho rằng, đó là sự cảnh cáo đối với Bắc Kinh rằng, Mỹ biết các điểm yếu của hệ thống phòng không Trung Quốc.

Dọc bờ biển Trung Quốc có bố trí 2 cụm radar do hải quân và không quân Trung Quốc lập ra, chuyên gia quân sự của Viện Project 2049 Mark Stokes cho biết. Mắt xích yếu nhất là Lữ đoàn radar số 2 ở tỉnh Triết Giang và Lữ đoàn radar số 4 ở tỉnh Phúc Kiến. Khe hở của trường radar giữa chúng chạy dọc mép phía nam khu vực phòng không mới.

ADIZ mới của Trung Quốc ở nghĩa đen và nghĩa bóng là “một đường kẻ trên cát”, Chủ tịch Global Strategies and Transformation, ông Paul Giarra khẳng định.

Tuần trước, ông Stokes nói rằng, hoàn toàn có thể một máy bay do thám điện tử RC-135 của USAF đã bay trên vùng này của biển Hoa Đông để thu thập thông tin về các tham số kỹ thuật của các radar Trung Quốc đang hoạt động. Các dữ liệu này có thể được dùng để tiến hành tác chiến điện tử chống các radar Trung Quốc nhằm “mục đích làm lẫn lộn hoạt động của chúng” một khi xảy ra xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và Nhật Bản vì quần đảo Senkaku. Các máy bay loại này được triển khai tại căn cứ Kadena, tỉnh Okinawa, Nhật Bản. Các máy bay ném bom В-52 chắc chắn đã bay đến từ căn cứ Andersen của Không quân Mỹ trên đảo Guam.

“Các kẽ hở radar” hiện có ở dọc bờ biển Trung Quốc có thể được máy bay Mỹ lợi dụng để tiêu diệt “các bộ phận quan trọng thiết yếu” của phòng không Trung Quốc như các trung tâm điều khiển radar và các trận địa hỏa lực tên lửa phòng không. Mỹ phải tiêu diệt các hệ thống này để sau đó thực hiện các đòn tấn công vào các vị trí triển khai tên lửa hành trình và tên lửa đường đạn tầm ngắn.

Ngoại lệ duy nhất bên ngoài quy luật này là một radar mạnh với anten mạng pha  bố trí ở tỉnh Triết Giang và thuộc quyền chỉ huy của bộ tổng tham mưu quân đội Trung Quốc. Có tin hải quân, không quân và bộ tổng tham mưu quân đội Trung Quốc vẫn còn mắc bệnh quan liêu nên không cho phép tạo ra một trường radar thống nhất.

Tuy nhiên, ông Stokes cho rằng, với thời gian, hệ thống phòng không Trung Quốc sẽ khắc phục được “các kẽ hở radar” để tạo ra một hệ thống quan sát không trung thống nhất tự động hóa.

Ông Giarra cho biết, sở dĩ mạng lưới phòng không Trung Quốc có các kẽ hở là vì hoạt động phối hợp không được nhịp nhàng giữa hải quân và không quân Trung Quốc dọc theo biên giới biển.

Ông Stokes cho rằng, nếu không tạo được một hệ thống phòng không/phòng thủ tên lửa tích hợp thì không thể giải quyết các nhiệm vụ phòng không đất nước và nói rằng, việc Trung Quốc lập khu vực nhận dạng phòng không mới sẽ cho phép họ hiểu tốt hơn nhu cầu này. “Từ góc độ này, việc lập khu vực phòng không mới là bài học khá hữu ích cho Trung Quốc, ông Stokers nói.
Nguồn: Defense News, 10.5, MP, 12.5.2014.

Mỹ đánh giá gì về tàu ngầm thông thường to nhất thế giới của TQ?

02:07 |
(GDVN) - Loại tàu ngầm mới nhất được Trung Quốc nửa kín nửa hở công bố với thế giới được cho là tàu ngầm lớp Thanh Type 032.
Báo chí Nhật Bản cho biết tuần qua, các phương tiện truyền thông do nhà nước quản lý của Trung Quốc đã đồng loạt đăng tải thông tin cho rằng Hải quân Trung Quốc đã chế tạo và đang thử nghiệm một loại tàu ngầm thông thường được cho là có kích thước lớn nhất thế giới.
Tàu ngầm lớp Thanh Type 032 của Trung Quốc
Loại tàu ngầm mới nhất được Trung Quốc nửa kín nửa hở công bố với thế giới được cho là tàu ngầm lớp Thanh Type 032 (Type 032 Qing-class submarine).








Báo Trung Quốc cho biết tàu ngầm lớp Thanh Typr 032 của nước này hiện giờ là tàu chiến ngầm thông thường có kích thước lớn nhất thế giới, tức là vượt qua cả kích thước của các tàu ngầm phi hạt nhân của Nga và Mỹ.

Báo Want China Times trích dẫn một báo cáo bằng tiếng Trung Quốc là tờ Guangming Daily cho hay, tàu ngầm thông thường lớp Thanh Type 032 hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm và nó đã được mang ra trưng bày cách đây 1 tuần tại Nhà máy đóng tàu Expo số 6 ở Quảng Đông, miền nam Trung Quốc.

Trong khi đó, tạp chí tình báo quốc phòng IHS Jane nói rằng tàu ngầm thông thường lớp Thanh của Type 032 của Trung Quốc được trưng bày từ ngày 6 đến ngày 8/6 vừa qua tại nơi TQ chế tạo ra nó.

Trước đó, tàu ngầm thông thường lớp Thanh của Type 032 của Trung Quốc bắt đầu lôi kéo sự chú ý của dư luận và các chuyên gia phân tích quân sự quốc tế từ năm 2010 khi xuất hiện hình ảnh đầu tiên về một thân tàu tại xưởng chế tạo ở Vũ Hán với tên gọi được các cư dân mạng TQ gọi gây tranh cãi là tàu ngầm Type 043.

Theo mạng An ninh toàn cầu/Global Security, sự phát triển của tàu ngầm lớp Thanh Type 032 bắt đầu từ đầu năm 2005. Đến năm 2008 bắt đầu tiến hành xây dựng sau nhiều năm nghiên cứu.

Năm 2010, tàu ngầm lớp Thanh Type 02 đầu tiên bắt đầu được hoàn thiện. Các cuộc thử nghiệm trên biển được cho là đã tiến hành xong vào mùa Thu năm 2012.

Chiếc tàu đầu tiên này được biên chế cho quân đội Trung Quốc vào tháng 10 năm 2012 và từ đó cho đến năm 2013 nó vẫn âm thầm được Hải quân của Trung Quốc tiến hành các thử nghiệm, có thể là liên quan đến vũ khí.

Theo phỏng đoán của các chuyên gia quân sự quốc tế, có thể tàu ngầm thông thường lớp Thanh Type 032 của Trung Quốc có lượng giãn nước khi nổi khoảng 3797 tấn, khi lặn 6,628 tấn.

Một số báo cáo đăng trên báo chí chính thống của Trung Quốc cũng đã đăng tin xác nhận các thông số này. Còn theo nguồn tin của tạp chí IHS Jane’s, tàu ngầm lớp Thanh Type của Hải quân PLA là tàu ngầm có trọng tải 3797, có khả năng chở theo 200 thủy thủ và các chuyên gia nghiên cứu.

Tàu ngầm lớp Thanh Type 032 được cho là có chiều dài 92,6 mét, cao 17,2 mét và được xét là tàu ngầm giữ kỷ lục về kích thước đối với phân loại tàu ngầm quân sự thông thường.

Từ nhưng hình ảnh đầu tiên được công bố trên mạng từ năm 2010, các nhà phân tích quân sự nhận xét rằng thiết kế của tàu ngầm lớp Thanh Type 032 có kết cấu đuôi lớn, mở rộng ở phần thân phía dưới.

Nhiều người phỏng đoán rằng tàu ngầm lớp Thanh Type 032 được nghiên cứu, chế tạo, thử nghiệm để thay thế tàu ngầm Type 031 (cũng là một loại tàu chiến được nghiên cứu và thử nghiệm từ những năm 1960) của Trung Quốc mà loại tàu này được chế tạo dựa trên thiết kế của tàu ngầm lớp Golf do Liên Xô cũ thiết kế.

Tàu ngầm Type 031 của Hải quân Trung Quốc chưa bao giờ đạt được khả năng vận hành như mong đợi của Bắc Kinh mặc dù chúng đã được sử dụng để phóng thử các tên lửa đạn đạo JL-1 và JL-2.

Đánh giá của quân đội Mỹ
Tàu ngầm lớp Thanh Type 032 của Trung Quốc
Chính vì điều này mà dư luận cho rằng Hải quân Trung Quốc sẽ sử dụng tàu ngầm mới lớp Thanh Type 032 để phóng các tên lửa đạn đạo JL-1 và JL-2 trong tương lai để tăng cường khả năng răn đe hạt nhân của Bắc Kinh ở trên đấu trường biển.

Vũ công Nga tham gia lễ khởi công chế tạo tàu ngầm thứ 6 cho Việt Nam 

Bài báo đăng chùm ảnh về nhà máy đóng tàu Nga đã đặt sống tàu cho chiếc Kilo thứ 6, mang tên Bà Rịa-Vũng Tàu, chiếc thứ 3 sẽ về Việt Nam vào tháng 11/2014.

“Ai bán tên lửa chống hạm Kh-35 cho Bắc Triều Tiên?”


Quân đội Mỹ cho biết, Trung Quốc đang tiến đến rất gần với việc hình thành khả năng răn đe hạt nhân khi kết hợp tàu ngầm hạt nhân lớp Tấn/ (Jin) Type 094 có khả năng phóng tên lửa đạn đạo JL-2.

Theo đánh giá của Mỹ, tàu ngầm lớp Thanh Type 032 của Trung Quốc chủ yếu được chế tạo để tử nghiệm các loại tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm. 

Trong tương lai, Trung Quốc sẽ thiết lập thêm nhiều đơn vị tàu ngầm thông thường để tăng cường thêm với đội hình tàu ngầm hạt nhân với mục đích hình thành khả năng răn đe chiến lược từ biển đối với bất cứ quốc gia nào ở trong và ngoài khu vực.

Quân đội Mỹ cho rằng, bên cạnh nhiệm vụ thử nghiệm các loại tên lửa đạn đạo cũ và mới, tàu ngầm lớp Thanh Type 032 cũng sẽ được Hải quân PLA giao phó nhiều nhiệm vụ khác nhau như chuyên trở, triển khai các loại tàu ngầm không người lái và đặc nhiệm hải quân của TQ.

Tàu ngầm lớp Thanh Type 032 của Trung Quốc được thiết kế với hai hệ thống phóng thẳng đứng dành cho các tên lửa đạn đạo JL-1, JL-2, chống hạm CJ-20A, YJ-18, một số loại ngư lôi phá hủy tàu nổi và tàu ngầm của đối phương.

Bình Nguyên



Được tạo bởi Blogger.

Biển Đông News

Template Information