Học giả Ba Lan xác nhận chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa-Trường Sa

10:05 |
Các học giả Ba Lan tham dự cuộc hội thảo tại một đại học ở Warsaw xác nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và lên án những hành động gây hấn mới đây của Trung Quốc trong các vùng biển của Việt Nam.
Theo Vietnamnet, hơn 50 người tham gia buổi hội thảo tại Đại học Almamer ở thủ đô Ba Lan đã lắng nghe báo cáo cập nhật việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.
Tin ghi 13 học giả Ba Lan đã phát biểu, bày tỏ ý kiến của họ về vấn đề này từ nhiều góc cạnh, và xác nhận rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về lãnh thổ Việt Nam.
Các học giả này lên án những hành động sai trái của Trung Quốc, là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và đe dọa an toàn hàng hải trên Biển Đông.
Cũng liên quan tới đề tài Biển Đông, hôm qua một giới chức cấp cao của Mỹ nói rằng những tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh trên hầu hết diện tích Biển Đông là “có vấn đề”, và tố cáo Trung Quốc đã làm cho căng thẳng gia tăng trong khu vực.
Giới chức Mỹ này tháp tùng Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry tới Bắc Kinh để dự cuộc Đối thoại về Chiến lược và Kinh tế với Trung Quốc, một cuộc họp thường niên giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Pháp tấn xã hôm qua dẫn lời giới chức Mỹ nói rằng tình trạng leo thang căng thẳng trong khu vực có liên hệ tới Hoa Kỳ trong tư cách một cường quốc Thái bình dương, một nước có những hoạt động thương mại quan trọng và sử dụng các tuyến hàng hải trong khu vực, và cũng liên quan tới Hoa Kỳ trong tư cách là một nước từ lâu đã bảo đảm ổn định tại khu vực Á Châu-Thái bình dương.
Giới chức Mỹ này không cho biết danh tính nói rằng các cuộc thảo luận với phía Trung Quốc sẽ “rất trực tiếp, bộc trực và có tính cách xây dựng.”
Hoa Kỳ vẫn nhấn mạnh là nước này không về phe nào trong các tuyên bố chủ quyền, nhưng tố cáo Bắc Kinh về những hành động gây bất ổn, và kêu gọi Trung Quốc hãy tôn trọng quyền tự do hàng hải trên các tuyến đường biển quan trọng của thế giới.

Báo Mỹ khẳng định “Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam”

07:17 |
Tạp chí Christian Science Monitor của Mỹ mới đây đăng bài về việc thu thập bản đồ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Trần Đình Thắng. Đây là bài báo đầu tiên ở Mỹ có dòng chữ khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam”.
Báo Mỹ khẳng định “Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam”

Trần Đình Thắng có trong tay 150 tấm bản đồ và ba tập bản đồ cổ Trung Quốc, trong đó chỉ ra rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ là một phần của Trung Quốc.


Thời gian qua, một số tờ báo Mỹ đã nói về tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc và các nước Châu Á. Nhưng bài viết vừa qua trên tạp chí Christian Science Monitor - tờ báo khá lớn, thuộc thể loại báo chính trị, phát hành cả ở Mỹ và quốc tế - là bài đầu tiên ở Mỹ có dòng chữ khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam”, mặc dù đó là lời phát biểu của cá nhân anh Trần Thắng.

Dưới đây là bài viết của Mai Ngọc Châu, đang học thạc sỹ báo chí ở Boston về việc trên. Lao Động điện tử xin trích dịch dưới đây.

<>Nghĩa vụ giữ gìn đất nước

Năm 1995, Trần Đình Thắng, một Việt kiều Mỹ, mời giáo sư Trần Văn Khê từ Đại học Sorbonne (Pháp) - chuyên gia về âm nhạc Việt Nam, đến nói chuyện tại Đại học Connecticut (trường Uconn – Mỹ). Buổi nói chuyện của ông đã trở thành một phần lịch sử của trường Uconn. Cuộc đó thu hút hơn 300 khán giả, nhưng một phần ba trong số đó là để phản đối chính phủ Việt Nam. Nhưng điều đó không làm Trần Thắng nhụt chí.

Lúc đó anh là sinh viên năm thứ ba ngành cơ khí và là Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam của trường. Thắng nhận ra rằng, cuộc gặp với một biểu tượng văn hóa Việt Nam đã đánh thức trong anh tình yêu với quê hương. “Chính giáo sư Khê đã cho tôi sức mạnh nội tại để theo đuổi việc trao đổi văn hóa", Trần Thắng nói.

Giờ đây tình yêu của Thắng với tất cả những gì mang tính Việt Nam còn kết hợp với một sự say mê khác: Sưu tập bản đồ cổ. Anh đã có trong tay 150 tấm bản đồ và ba tập bản đồ cổ Trung Quốc, trong đó chỉ ra rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ là một phần của Trung Quốc như nước này tuyên bố, mà thực ra là thuộc về Việt Nam.

Các chuyên gia về biển Đông nói rằng, nếu các tranh chấp biển đảo được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế, bộ sưu tập bản đồ của Trần Thắng có thể được dùng làm bằng chứng lịch sử để phản bác các đòi hỏi của Trung Quốc. “Là người Việt, tôi có nghĩa vụ giữ gìn đất nước”, Trần Thắng nói. Anh bảo rằng anh luôn mong muốn biến những suy nghĩ của mình thành hành động.

Trần Thắng sống cùng bố mẹ ở West Hartford, bang Connecticut. Gia đình anh sang Mỹ từ năm 1991. Sau khi tốt nghiệp ngành cơ khí ở đại học Uconn, Trần Thắng tiếp tục lấy bằng thứ hai về quản lý và kỹ thuật, rồi anh làm việc cho công ty Electric Boat. Hiện Thắng là kỹ sư của công ty Prat & Whitney, một nhà sản xuất linh kiện máy bay.

Trần Thắng bắt đầu sưu tập bản đồ cổ từ tháng 7/2012 với suy nghĩ rằng những bản đồ đó sẽ giúp bảo vệ chủ quyền Việt Nam. Anh lên mạng bán đấu giá eBay, tìm kiếm các từ khóa như “Bản đồ Trung Quốc”, “Bản đồ Đông Dương”, “Đảo Hải Nam”. Anh nói: “Các công trình của người phương Tây thường dựa trên cơ sở khoa học, vì thế tôi cho rằng các bản đồ cổ do phương Tây vẽ có thể là bằng chứng khoa học về chủ quyền của Việt Nam”. Trần Thắng tìm kiếm trên mạng, liên hệ với các nhà sử học, lấy ý kiến của các chuyên gia về biển Đông từ Mỹ đến Việt Nam. 150 bản đồ và 3 tập bản đồ anh sưu tập được xuất bản ở Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Canada, Ấn Độ và Trung Quốc từ 1626 đến 1980.

“Khoảng 80 tấm bản đồ và 3 tập atlas chỉ rõ, biên giới phía nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, và 50 bản đồ chỉ rõ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam", Trần Thắng cho biết.

Tiến sỹ Trần Đức Anh Sơn của Viện Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng khẳng định, các sưu tập của Thắng đã cung cấp thêm bằng chứng lịch sử và khoa học để chứng minh chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa Trường Sa, bác bỏ đòi hỏi vô lý của Trung Quốc với hai quần đảo này. Còn giáo sư danh dự Đại học New South Wales (Australia), ông Carl Thayer, nói rằng bộ sưu tập của Trần Thắng cho thấy sự đối lập trong đòi hỏi của Trung Quốc.

<>Trái tim ở Việt Nam

Từ năm 1996, cùng với bạn bè, Trần Thắng đã thành lập ra tạp chí Nhịp Sống, một tạp chí bằng tiếng Việt để thúc đẩy hiểu biết về văn hóa Việt Nam. Tạp chí dày 124 trang, ra mỗi năm một kỳ, tập hợp các bài viết về lịch sử, xã hội, văn học, nghệ thuật Việt Nam, thu hút sự đóng góp của rất nhiều học giả và nghệ sỹ ở Mỹ, ở Việt Nam và nhiều nơi khác. Tạp chí đã đến với nhiều người Mỹ gốc Việt cho dù họ có quan điểm khác nhau.

Năm 2000, Trần Thắng tiếp tục thúc đẩy các trao đổi văn hóa lên một bước mới. Với sự ủng hộ của nhiều học giả Việt Nam có tên tuổi ở nước ngoài, Trần Thắng đã thành lập tổ chức phi lợi nhuận có tên Viện Văn hóa Giáo dục Việt Nam (IVCE). IVCE thường tổ chức tại Việt Nam các hội thảo về việc du học Mỹ và trợ giúp sinh viên Việt Nam xin học bổng tại Mỹ. 12 năm qua, Trần Thắng đi lại như con thoi giữa Mỹ và Việt Nam, tổ chức khoảng 60 hội thảo mùa hè về du học tại Mỹ, với sự giúp đỡ từ kinh nghiệm trực tiếp của hàng trăm người Mỹ gốc Việt. Hàng chục trường đại học Mỹ và Việt Nam giờ là đối tác của IVCE để trao đổi các đoàn và thiết lập các chương trình hợp tác. IVCE cũng đã tổ chức 44 sự kiện khắp nước Mỹ đề giới thiệu về âm nhạc, nghệ thuật cổ truyền, mỹ thuật, văn học, chiếu phim tài liệu và phim truyện Việt Nam.

“Trần Thắng sống ở Mỹ, nhưng trái tim anh ấy ở Việt Nam”, nữ diễn viên điện ảnh Hồng Anh nói. Cô đã tham gia cùng Trần Thắng trong chuyến đi tới các trường đại học vùng đông bắc nước Mỹ hồi tháng 11.2012.

Còn giáo sư Trần Văn Khê, người trở thành thầy giáo của Trần Thắng, thì nói: “Thắng đã cống hiến cho nhiều chương trình có ích cho Việt Nam theo nhiều cách khác nhau. Nhưng Thắng không bao giờ khoa trương về những gì mình đã làm”.

Trần Thắng nói, anh cảm thấy mình có nghĩa vụ làm việc vì đất nước: “Đó là nhiệm vụ của đời tôi".
Theo <>M.H
Lao động

Nguồn : Dân Trí

Bộ sưu tập 80 tấm bản đồ cổ của một người Mỹ gốc Việt: Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc lãnh thổ của Trung Quốc

07:09 |
 Ông Thắng Trần - một người gốc Việt ở Hoa Kỳ, đương nhiệm Chủ tịch Viện Văn hóa & Giáo dục Việt Nam (IVCE) tại New York đã sưu tập 80 bức bản đồ do Tây phương ấn hành và 3 tập sách toàn đồ Trung Hoa cho thấy rõ hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa không hề thuộc chủ quyền Trung Quốc.



Ông Thắng Trần và bộ sưu tập bản đồ

Ông Thắng Trần kể về bộ sưu tập của mình như sau: "Thực ra từ năm 2010, tôi đã tiếp xúc với những tấm bản đồ liên quan đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Còn tính đến ngày 25-8-2012, tôi đã mua tổng cộng được 80 bức bản đồ riêng lẻ được in ấn tại các nước Anh, Ðức, Úc, Canada, Mỹ và Hồng Công (Trung Quốc) trong khoảng thời gian 1626 – 1980. Những bản đồ này chia làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất là những bản đồ Trung Quốc. Trong đó, phần lãnh thổ của Trung Quốc thường được tô khác màu hoặc giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng và chúng có chung đặc điểm là cương giới của Trung Quốc chỉ đến cực Nam của đảo Hải Nam. Nhóm thứ hai là những bản đồ Việt Nam hoặc bản đồ khu vực Đông Nam Á, trong đó có thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ thuộc chủ quyền Việt Nam. Đặc biệt, tôi còn phát hiện 3 tập atlas (bản đồ) do chính quyền Trung Quốc xuất bản khá xưa. Cuốn thứ nhất là "Atlas of the Chinese Empire” (Trung Quốc địa đồ) xuất bản năm 1908, in bằng tiếng Anh mua từ một nhà sưu tập sách cũ tại Anh. Tập bản đồ này gồm một bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 22 bản đồ các tỉnh của Trung Quốc. Ðây cũng là tập bản đồ chính thức được in lần đầu tại Trung Quốc với số lượng giới hạn do phái bộ The China Inland Mission, có trụ sở ở Thượng Hải, London,PhiladelphiaToronto và Melbourne biên soạn và phát hành với sự giúp đỡ của Tổng cục Bưu chính Thanh triều. Cuốn thứ hai "Atlas Postal de Chine” (Trung Hoa bưu chính dư đồ) do Tổng cục Bưu chính trực thuộc bộ Giao thông Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh năm 1919. Sách in bằng ba thứ tiếng: Trung, Anh, Pháp. Tập bản đồ này gồm một bản đồ tổng thể và 46 bản đồ các tỉnh thuộc sở hữu của một nhà sưu tập ở Ba Lan. Cuốn thứ ba cũng có tên "Atlas Postal de Chine” (Trung Hoa bưu chính dư đồ) vẫn do Tổng cục Bưu chính bộ Giao thông Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào năm 1933 mua được từ một nhà sưu tập tại New York. Tập bản đồ này cũng in bằng ba thứ tiếng Trung, Anh, Pháp, gồm một bản đồ tổng thể và 29 bản đồ các tỉnh, bao gồm cả Tây Tạng và Mông Cổ. Đáng chú ý khi tấm bản đồ số 23 trong tập bản đồ này là bản đồ tỉnh Quảng Đông, bao gồm cả đảo Hải Nam. Vì đảo Hải Nam không nằm trọn trong bản đồ nên người ta in thêm phần đảo Hải Nam ở góc trái. Các tập bản đồ này được đặt tên là Trung Hoa bưu chính dư đồ vì đây là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ bưu chính do nhà Thanh vạch ra vào năm 1906 và được Chính phủ Trung Hoa dân quốc kế tục. Nói chung, các bản đồ được lập chi tiết ở từng tỉnh, thể hiện rõ các con đường vận chuyển thư từ, công văn trong các tỉnh, thành của Trung Quốc. Vì thế, nơi nào không thuộc lãnh thổ nước họ thì họ không đưa vào các tập bản đồ. Đây là những tài liệu chính thống do nhà nước Trung Quốc phát hành vào nhiều thời điểm lịch sử khác nhau và thể hiện rằng Trung Quốc luôn thừa nhận cương vực phía Nam của họ chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam mà thôi…”


Bức bản đồ do Trung hoa Bưu chính dư đồ, 
Bưu chính Tổng cục Giao thông bộ Trung hoa dân quốc ấn hành năm 1919, 
nêu rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam

Cũng theo lời Thắng Trần, ông bắt đầu có ý định sưu tầm những chứng cứ lịch sử này kể từ khi hay tin Tiến sĩ Mai Hồng, nguyên Trưởng phòng tư liệu thư viện - Viện Hán Nôm, công bố tấm bản đồ "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do nhà Thanh (Trung Hoa) ấn hành năm 1904 ghi rõ cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, không bao gồm Hoàng Sa-Trường Sa. Vào cuối tháng 7-2012, tấm bản đồ của Tiến sĩ Hồng đã được giao lại cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia bảo quản và trưng bày. Riêng bản thân ông Thắng Trần đã quyết định gửi tặng toàn bộ 80 bản đồ ông sưu tập được cho Viện Phát triển xã hội Ðà Nẵng.
SINH NGUYỄN (THEO ĐẠI ĐOÀN KẾT)

Trung Quốc “ngụy tạo lịch sử khổng lồ”

18:53 |
Tối cao Pháp viện Philippines vừa bác bỏ việc Trung Quốc dựa vào các tấm bản đồ để đòi chủ quyền đối với khoảng 90% Biển Đông. Thẩm phán Antonio Carpio gọi những tấm bản đồ đó là “ngụy tạo lịch sử khổng lồ” của Trung Quốc.




Thẩm phán Antonio Carpio nói những tấm bản đồ Trung Quốc trưng ra làm bằng chứng cho yêu sách Đường lưỡi bò của họ ở Biển Đông không có giá trị gì

 Thẩm phán Carpio cho biết ông đã nghiên cứu 72 bản đồ cổ, trong đó 15 bản có xuất xứ Trung Quốc. Theo lời ông, trên các bản đồ thời nhà Tống (960-1279), nhà Minh (1368-1644) và nhà Thanh (1644-1912), đảo Hải Nam luôn được ấn định là vùng lãnh thổ cực nam của Trung Quốc. Toàn bộ các bản đồ hiện được bảo quản dành cho tiếp cận công khai trong Thư viện Quốc gia Mỹ.

 Thẩm phán Philippines nhấn mạnh sự cần thiết dựa trên những cứ liệu lịch sử chân thực để phản bác tuyên bố của Trung Quốc về Biển Đông, bởi chính quyền Bắc Kinh đang dùng lối bóp méo sự thật để hình thành ý kiến ​​công chúng đồng thời tuyên bố sẵn sàng dùng vũ lực bảo vệ quyền chủ quyền Trung Quốc.

 "Trung Quốc nêu ra những bản đồ cổ của Trung Quốc như những sự thật lịch sử để đòi chủ quyền các đảo, các bãi đá, các bãi cạn và các vùng biển bên trong đường 9 đoạn mà họ vạch ra ở Biển Đông. Trước hết, chúng tôi phải khẳng định là dựa theo luật pháp quốc tế một tấm bản đồ tự nó không cấu thành một giấy chủ quyền lãnh thổ hoặc một văn kiện pháp lý để xác định các quyền về lãnh thổ” - ông Carpio cho biết.

 Tiến sĩ Myron Nordquist, một chuyên gia của Trung tâm Luật pháp và Chính sách Hải dương của Đại học Virginia, Mỹ, cho rằng bản đồ và những dữ liệu bổ sung nên được xem là những tài liệu hỗ trợ cho các yêu sách chủ quyền. Ông nói: “Quí vị phải làm nhiều hơn là chỉ đưa ra một yêu sách. Quí vị phải chứng tỏ sự chiếm lĩnh có hiệu lực. Và Trung Quốc chưa làm được như thế".

 Ông Nordquist cho biết thêm rằng một nước yêu sách chủ quyền cần phải có quyền lực hoặc quyền hạn đối với lãnh thổ đó và điều đó không thể thực hiện trong lúc có sự phản đối của một nước khác. Việc sử dụng bản đồ để củng cố yêu sách chỉ có tác dụng tối thiểu.



Thủ tướng Đức Angela Merkel giới thiệu với Chủ tịch Trung Quốc tấm bản đồ cổ Trung Quốc không bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa nhân chuyến thăm Berlin hồi tháng 4/2014 của ông Tập Cận Bình

 Euan Graham, nhà nghiên cứu cấp cao của Trung tâm Nghiên cứu An ninh Hải dương của Trường Nghiên cứu Quốc tế Rajaratnam ở Singapore, nói: "Trung Quốc có thể tạo ra một yêu sách dựa trên các cơ sở lịch sử đối với các hòn đảo ở Biển Đông và nộp những bản đồ mà họ tin là có lợi cho luận cứ của họ, nhưng đường 9 đoạn không phù hợp với Luật biển Liên Hiệp Quốc".

 Cuối tháng 3/2014, Philippines đã nộp cho Tòa án Trọng tài Quốc tế về Luật Biển những giấy tờ để hậu thuẫn cho đơn kiện của họ. Đơn kiện này cho rằng yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc là quá đáng. Tháng trước, Tòa án Trọng tài Thường trực Quốc tế đã cho Trung Quốc tới ngày 15/12 để Trung Quốc nộp các giấy tờ phản bác lập luận của Philippines. Tuy nhiên Trung Quốc lại một lần nữa không chịu tham gia vụ phân xử này. Câu hỏi được nhiều người đặt ra là nếu Trung Quốc khẳng định có bằng chứng về yêu sách của họ với 90% Biển Đông thì tại sao họ không dám ra tòa? Phải chăng những bằng chứng của họ chỉ là ngụy tạo?!

 Th.Long (tổng hợp)

Bản đồ cổ Trung Quốc đến đảo Hải Nam

03:26 |
Bản đồ Nhà Thanh do Khang Hy xác định cương vực của Trung Quốc chấm dứt ở Đảo Hải Nam:


Tóm tắt: Cương vực Trung Quốc là nơi hoàng đế Trung Quốc thực sự có chủ quyền và kiểm soát, như thu thuế, cử quan lại cai trị. Các vùng chỉ nằm dưới sự ảnh hưởng của Trung Quốc và chịu triều cống không phải thuộc cương vực chủ quyền của họ. Cách dễ nhất để coi đâu là cương vực chính thức của Trung Quốc là xem xét chính sử hoặc các bản đồ cương vực được Hoàng đế Trung Quốc cho chính thức xuất bản. Những sử liệu và bản đồ địa lý này là tài liệu chính thức của quốc gia, có giá trị quốc tế mà Trung Quốc có thể dùng để xác định vùng đất nó có chủ quyền.

Bài viết này chỉ nhằm xác định một sự kiện là Hoàng đế Khang Hi của Trung Quốc (康熙 Kangxi) đã sử dụng giáo sĩ dòng tên phương Tây đi khắp nơi đo đạc địa hình và vẽ bản đồ chính thức cương vực Triều Thanh; công việc này tốn mất gần 10 năm và kết quả là đã việc xuất bản bản đồ cương vực Trung Quốc có tên là Hoàng dư toàn lãm đồ (Huangyu quan lan tu皇輿全覽圖) vào năm 1717. Theo bản đồ này cương vực phía đông nam Trung Quốc chấm dứt ở Đảo Hải Nam. Đây là điểm đóng góp mới vì từ trước đến nay khi nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa, nhiều người kể cả tác giả bài viết này đã trưng ra được bản đồ nhà Thanh nhưng đều là bản đồ không rõ xuất xứ và không phải là chính thức. Ngày 28 tháng 3 vừa qua, Thủ Tướng Đức Merkel đã tặng chính bản sao vẽ của Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville của tấm bản đồ và được in tại Đức năm 1735 trên cho Chủ tịch nước Tập Cận Bình khi ông thăm viếng Trung Quốc.[1]

Giới thiệu

Trước năm 1909 khi phái Lý Chuẩn 李 準 ra Hoàng Sa[2] chính quyền vua chúa Trung Quốc đã không coi đảo và biển ĐNA vượt qua phía Nam đảo Hải Nam là thuộc họ. Các chúa Nguyễn và sau này là vua Gia Long, Hoàng Sa đã là nơi vua chúa Việt Nam sai lính ra đó thường xuyên được ghi lại trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn (viết khoảng khoảng giữa 1776-1784) [3] , ghi lại trong chính sử năm 1848[4], và được người nước ngoài ghi lại tuyên bố của vua Gia Long trong bài viết xuất bản năm 1837[5] nhưng không thấy có sự phản đối nào từ phía Trung Quốc.

Rất ngạc nhiên là nhiều học giả Trung Quốc đã không sử dụng chính sử hay bản đồ chính thức của các triều đại Trung Quốc, đặc biệt là triều đại cuối cùng là Nhà Thanh, để xác định đâu là cương vực chính thức của Trung Quốc; họ chỉ sử dụng những các tài liệu ghi chép của những nhà du lịch, thám hiểm có dịp đi qua và thường chỉ là ghi chép những điều được nghe kể lại.

Học giả Trung Quốc Teh-Kuang Chang[6] đã sử dụng những cuốn sách khảo luận hoặc du lịch viết bởi hay viết lại sau khi nghe thủy thủ và các nhà thám hiểm Trung Quốc nói. Các sách mà ông ta đề cập tới trong bài là sách của người du lịch và thám hiểm gồm:

“Mộng Lương lục/ Meng Liang Lu (Record of a Day-Dreamer) thời nhà Tống, Đảo Di chí lược/ Dao Yi Zhi Lu (Brief Account of the Islands) thời nhà Nguyên, Đông Tây dương khảo/ Dong Xi Yang Kao (Studies on the Oceans East and West) và Thuận phong tương tống/ Shun Feng Xiang Song (Fair Winds for Escort) thời nhà Minh, Chỉ nam chính pháp/ Zhi Nan Zheng Fa (Compass Directions) và Hải Quốc văn kiến lục/ Hai Guo Wen Jian Lu (Records of Things Seen and Heard About the Coastal Regions) thời nhà Thanh (Qing dynasty) và Canh lộ bạc [bộ] / Geng Lu Bu (Manuals of Sea Routes) sách hướng dẫn cho dân chài của nhiều thế hệ.”

Học giả Trung Quốc Jian Ming Shen,[7] người đã tự nhận là có ảnh hưởng đến việc viết Tuyên bố năm 2000 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng Trung Quốc đã khám phá ra đảo và biển Đông Nam Á từ thời nhà Hán,[8] đã trích lời giáo sư Wu Fengbin của Đại học Hạ Môn, người đã dùng các bản đồ hay những cuốn sách sau như là chứng cứ: Thanh giáo quảng bị đồ (Shengjiao Guang beitu, 聲教廣被圖, Map of the Vast Reach of [China's Moral] Teaching, 1330), Dư địa đồ (Yudi Tu, 與地圖, Terrestrial Map-bản đồ vùng đất thêm vào, 1311-1320) do nhà đạo học Zhu Siben (朱思本) vẽ, Đông nam hải di đồ (Dongnan Hai Yi Tu, 東南海夷圖, Map of Barbarians in the Southeast Sea (bản đồ của người man di ở Biển Đông Nam Á),  Tây nam hải di đồ, Xinan Hai Yi Tu, 西南海夷圖, Map of the barbarians in the Southwest Sea-bản đồ của người man di ở Biển Tây Nam Á).  Một số bản đồ này với chữ Yi (夷), chư phiên (zhufan, 諸番) và thiên hạ (tianxia, 天下) là nói về người nước ngoài; còn bản đồ phát triển ảnh hưởng của đạo đức Trung Quốc hoặc về vùng đất thêm cũng là bản đồ nói về các nước ngoài cương vực Trung Quốc.  Và tất cả những bản đồ nói đến ở trên được dùng làm chứng cứ là đều do cá nhân vẽ, không thuộc chính sử. [9]

Vậy để xác định việc Trung Quốc trước đây có xem Hoàng Sa và Trường Sa thuộc họ không, cần xem xét sử nhà Minh (1368–1644), nhà Thanh (1644–1912) và bản đồ chính thức của hai triều đại này vì theo qui định được Tòa án Công lý Quốc tế xác định năm 1933 là: “một yêu sách chủ quyền dựa trên cơ sở sự liên tục hành xử chủ quyền gồm có hai yếu tố, và phải chứng tỏ được từng yếu tố có sự hiện diện: ý định và ý chí hành động như một chủ thể, và một số hành xử và bày tỏ thực tiễn quyền làm chủ đó.”[10] ”yêu sách chủ quyền không trên cơ sở luật hay quyền được trao như hiệp ước nhượng địa mà chỉ dựa vào việc liên tục biểu lộ quyền lực liên quan đến hai yếu tố phải có: ý định và ý chí thực hiện chủ quyền, và một số thực hiện hay biểu lộ thực sự chủ quyền đó.”[11] Ý định, ý chí và hiệu lực thực hiện chủ quyền ít nhất phải được xác định trong sử và tài liệu chính thức.

Lịch sử triều Minh (1368–1644) và triều Thanh (1644–1912) đều cho thấy cương vực Trung Quốc chấm dứt ở Đảo Hải Nam; họ đã không màng đến khu vực biển Đông Nam Á vượt ngoài Hải Nam, như vậy thì họ không thể cho rằng đấy là khu vực lịch sử đã lâu đời thuộc về mình được. Các tài liệu do công dân đi qua, nhìn thấy và ghi lại ở những tài liệu dụ ký ghi chép cá nhân không cho phép quốc gia của người công dân đó coi đó mà minh chứng cho chủ quyền quốc gia họ ở đó. Vào thời nhà Thanh, Đảo Hải Nam gồm Quỳnh Châu (Qiongzhu, 瓊州) và Châu Nhai (Zhuya 珠崖) sau hợp lại thành tỉnh Quỳnh. Như vậy vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong cương vực Trung Quốc. Đây là thời gian ở Việt Nam, Chúa Nguyễn (1558 – 1777) và Nhà Nguyễn Việt Nam (1802-1862)[12] đã hành xử chủ quyền liên tục ở đó mà không bị Trung Quốc phản đối.

Trong trường hợp Việt Nam, như đã nói ở trên hoạt động của các chúa Nguyễn ở Hoàng Sa đã được Lê Quí Đông ghi trong Phủ Biên Tạp Lục khoảng giữa 1776-1784 và việc Vua Gia Long tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa và được Taberd ghi lại và xuất bản năm 1837, các hoạt động sau của các Vua sau Gia Long đều được ghi trong chính sử. Những yếu tố trên đã xác định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa theo đúng luật quốc tế nói ở trên.

Xem xét bản đồ chính thức thời nhà Thanh

Như đã nói có rất nhiều bản đồ cổ của Trung Quốc được xuất bản ở Trung Quốc cho đến cuối đời nhà Thanh là đế quốc cuối cùng đều không có ghi nhận Hoàng Sa hay Trường Sa là thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng bản đồ được trình bày dưới đây là bản đồ do chính Hoàng đế Khang Hi thời nhà Thanh (1644-1912) thuê các giáo sĩ phương Tây đo đạc, vẽ và mất 10 năm mới thoàn thành. Chính vì thế mà mục đích của bài viết này là nhằm xem xét cụ thể tấm bản đồ này. Có thể nói đây là lần đầu tấm bản đồ này được xem xét với mục đích xác định cương vực của Trung Quốc.

Theo bài viết Traditional Chinese Cartoghraphy and the Myth of Westernization (Kỹ thuật vẽ bản đồ theo truyền thống Trung hoa và huyền thoại về tây phương hóa) của Cordell D.K. Yee,[13] thì trước khi  giáo sĩ dòng Tên (Jesuit) Matteo Ricci (1552-1610) và Michelle Ruggieri (1543-1607) đến Quảng đông năm 1583 truyền đạo, người Trung Quốc đã biết dùng cách kẻ ô để vẽ thể hiện khoảng cách trên bản đồ nhưng vẫn chưa biết trái đất không phẳng mà là hình cầu, và chưa biết dùng hệ thống Ptolemaic để diễn đạt.[14] Giáo sĩ Metteo Ricci là người giới thiệu kỹ thuật vẽ chính xác của phương Tây vào Trung Quốc và coi việc đó là phương cách truyền đạo.  Ricci đã vẽ lại bản đồ Trung Quốc dựa vào thông tin của Trung Quốc nhưng dùng nguyên tắc vẽ của phương Tây. Những tấm bản đồ này chỉ là chép lại thông tin đã có chứ không dựa vào đo đạc địa hình. Một số người ở Trung Quốc thích thú đã cho khắc in lại, nhưng lại sửa theo cách nhìn nghệ thuật của họ vì giới trí thức coi bản đồ là một vật phẩm nghệ thuật như tranh vẽ và thư họa chứ không coi là khoa học chính xác. Ngay cả Ricci cũng sửa lại địa thế để đặt Trung Quốc nằm ở giữa bản đồ thế giới có lẽ nhằm làm người Trung Quốc hài lòng. Khang Hi (康熙 Kangxi) mới là vị vua để ý đến khoa học phương Tây, như toán học, thiên văn học, cho xây đài thiên văn năm 1644, và quyết định chính thức dùng lịch phương Tây từ 19 tháng 10 1644 vì nó chính xác hơn. Chỉ đến năm 1698 khi các giáo sĩ dòng tên đề nghị Khang Hi cho đo đạc địa hình trung Quốc để vẽ bản đồ vì cho rằng các bản đồ cũ không chính xác và thậm chí sai lạc. Như thế, có thể nói bản đồ theo phương pháp phương Tây được nhà vua sai vẽ chỉ thực sự ra đời do lệnh của Khang Hi.[15]


Cũng theo Cordell D.K. Yee, năm 1698, vào thời vua Khang Hi (康熙 Kangxi) nhà Thanh, sau khi nghe linh mục dòng Tên (Jesuit) Dominique Parenin (1665-1759) đề nghị điều tra, đo đạc để vẽ lại bản đồ Trung Quốc vì bản đồ châu (prefecture), huyện (county, thị (city) lúc đó có nhiều sai sót, Khang Hi đã yêu cầu Joachim Bouvet (1656-1730) về Pháp kiếm những người có hiểu biết về thiên văn, toán, địa lý và đo đạc địa hình đem sang Trung Quốc để giúp vẽ lại bản đồ. Ông này trở về Trung Quốc mang theo 10 người. Sau đó, vua sai vẽ:

Năm 1705 vẽ Tianjin (Thiên Tân 天津), hoàn thành trong 70 ngày.

Năm 1707 vẽ vùng chung quanh Bắc Kinh hoàn thành trong 6 tháng.

Năm 1708 vẽ Vạn lý trường thành, hoàn thành vào năm 1709.

Vua nhà Thanh sau khi thử nghiệm như thế thấy rằng cách vẽ của Tây phương hơn hẳn cách vẽ bản đồ truyền thống của Trung Quốc nên đã tin cậy giao cho giáo sĩ dòng Tên vẽ bản đồ cả nước. Bản đồ cả nước này hoàn thành năm 1717 có tên là Hoàng dư toàn lãm đồ (Huangyu quan lan tu 皇輿全覽圖).

Bản đồ này có lịch sử in ấn phức tạp.

Bản 1717 vẽ theo tỷ lệ từ 1: 4000.000 đến 1: 5000.000, in bằng khắc gỗ có 28 tờ bản đồ. Bản đồ có Mông cổ và Mãn châu (manzhou 满洲),[16] phía đông Hami (哈密) ở Tân Cương, nhưng không có Tây Tạng (Xizang 西藏) và Tân Cương (Xin Jiang 新疆) bởi vì bản vẽ do nhóm tới Tây Tạng vẽ không được dùng vì không theo đúng tọa độ và lại có nhiều chỗ sai, còn ở Tân Cương có loạn chính quyền không kiểm soát được nên không thể sai người tới đo đạc địa dư. Mãi đến năm 1755 nhà Thanh mới hoàn thành được việc điều tra, đo đạc Tân cương. [17]


Bản 1719 vẽ theo tỷ lệ 1: 1.4000.000, in bằng bản khắc đồng do chính giáo sĩ Matteo Ripa thực hiện. Bản đồ này đã có thêm Tây Tạng và phía tây nam tới Mount Everest.[18] Bản này theo Cordell D.K. Yee còn được lưu giữ ở Thư viện Anh (British Library) và Thu viện Đại học Napoli, Ý (Instituto Universitario Orentale di Napoli).[19] Theo trả lời của thủ thư Thư Viện Anh, bản đồ này có tên là “Matteo Ripa map of China in năm 1719. Bản in này dựa theo đo đạc của các giáo sĩ Dòng tên từ 1708 đến 1716. Thư viện Anh hiện có bản in, gọi là K.top. 116.15, 15a. 15b.2 (K.Top là viết tắt của King’s Topographical collection).”[20] Bản in có 3 cuộn. Cuộn 1 là phía bắc và đông. Cực đông là Cao Ly. Cực tây là sa mạc Arena. Có ranh giới Tartaria. Không ghi rõ có Tây Tạng, Tân Cương. Ở tấm lớn nhất này có các tỉnh như: Scen Si (Thiểm Tây), Svcciuen, Honan (Hồ Nam), Scian Si (Sơn Tây), Hu quang (Hồ Quảng), Nan King (Nam Kinh), Pe King (Bắc Kinh), Scian tung (có thể là Sơn Đông), Leao Tung (liêu đông). Không có thêm tỉnh nào nữa. Cuộn 2 là phía nam nhưng lại không ghi rõ tỉnh Quảng đông và Vân nam. Chỉ ghi Nanchino. Cực đông ở cuộn này là đảo Đài Loan (Isola Taiwan). Cực đông nam là đảo Hải Nam (Isola Hainan). Cuộn 3 chung chung, không thấy ghi tên tỉnh, không có địa giới rõ ràng, có thể là vùng đất phụ cận với Trung Quốc.[21]

Hoàng dư toàn lãm đồ này cũng được nhắc đến trong Thanh sử cảo (Qing shi gao清史稿) như sau: “Vào năm Khang Hi thứ 58, toàn đồ được hoàn thành. Đây là bản đồ toàn diện, gồm 32 tờ. Có riêng bản đồ từng tỉnh, mỗi tỉnh một tờ.”[22] Thanh sử cảo mặc dù không hoàn toàn là chính sử vì nó được hoàn thành vào năm 1927 sau khi nhà Thanh đã đổ, nhưng nó được vua nhà Thanh chính thức sai soạn thảo nên có thể coi là chính thức.

Bản in bằng khắc gỗ 1721 theo tỷ lệ 1:1.200.000, cũng có tất cả 32 tờ, mỗi tỉnh một tờ, giống như bản 1719. Bản này cũng giống bản 1719.  Bản in gỗ này được mấy linh mục dòng tên gửi về châu Âu và được dùng làm cơ sở cho quyển sách Description, géographique, historique, chronologique, politique, et physique de l’empire de la Chine (1735) của Du Halde và quyển Nouvel atlas de la chine của J.B. Bourguignon.

Năm 1726,[23] hoàn thành Cổ kim đồ thư tập thành (古今圖書集成 Gujin tushu jicheng, Complete collection of book and illustrations, past, present) có 216 bản đồ của bản đồ khu vực hành chính (行政区画 hành chính khu hoạ) nhưng không có Mông Cổ và Tibet. Các bản đồ này giống như bản đồ được giáo sĩ dòng Tên hoàn thành nhưng bỏ đi đường vĩ tuyến và kinh tuyến, và nói chung là kết hợp cách vẽ đơn giản của truyền thống Trung Quốc và nguyên tắc vẽ khoa học của phương tây. Điều này cho thấy cách vẽ của phương Tây vẫn chưa hoàn toàn cắm rễ ở Trung Quốc vào lúc đó. Cổ kim đồ thư tập thành được chính quyền nhà Thanh in năm 1728 là sách bách khoa 5.020 tập, gồm các minh họa và trước tác từ thời sớm nhất đến thời cận đại được soạn dưới thời Khang Hi (Kangxi 康熙) và Ung Chính (Yongzheng 雍正). Người thực hiện đầu tiên là Trần Mộng Lôi (Chen Menglei 陳夢雷 và được Tưởng Đình Tích (Jiang tingxi 蒋廷锡) tiếp tục. Sách bách khoa này gồm 800.000 trang và chứa 100 triệu chữ. Đề tài gồm từ các hiện tượng tự nhiên, địa lý, lịch sử, văn chương và chính phủ. Số bản in chỉ có 60.[24] Một trong những người trong hoàng gia trông coi soạn là anh em của Ung Chính.

Bản đồ cả nước được in lại trong Traditional Chinese Cartoghraphy and the Myth of Westernization của Cordell D.K. Yee như đã nói ở trên, hình FIG. 7.8 trang 183. Hình này cho thấy Trung Quốc chấm dứt về phía đông nam bằng đảo Hải Nam.

Bản điện tử chụp từ bản chính được giữa ở Thư viện Anh do Thư viện cung cấp[25]

Có thể coi thêm hình chụp lại Hoàng Dư toàn lãm đồ 皇輿全覽圖 ở phía dưới. Đây là bản đồ được quảng cáo trên mạng tiếng Trung.[26] Rõ ràng Trung Quốc chấm dứt ở đảo Hải Nam.

Khang Hi toàn lãm đồ 康熙全覽圖

(Hoàng dư toàn lãm đồ皇輿全覽圖)

Cũng có thể thấy bản đồ này được viết nhiều trên mạng bằng tiếng Trung (thí dụ coi ở đây[27]).

Bản đồ Hoàng dư toàn lãm đồ này là cơ sở cho những bản đồ khác được xuất bản sau đó ở Trung Quốc mà nguồn gốc tác giả và có khi cả nhà xuất bản cũng không rõ. Dưới đây là một số bản đồ được giữ ở các thư viện phương Tây có thể tham khảo qua mạng, tất cả đều cho thấy Trung Quốc hay tỉnh Quảng Đông không có Hoàng sa hay Trường sa:

1. Hoàng dư toàn lãm phân tỉnh đồ (皇與全覽分省圖 Huang yu quan lan fen sheng tu) được lưu giữ ở Thư viện Quốc hội Mỹ (US Libary of Congress): Bản đồ này có thể coi trên mạng. [28] Tập bản đồ này có bản đồ tỉnh Quảng Đông nhưng tỉnh Quảng Đông chỉ có Đảo Hải Nam và không có đất đai nào khác ở phía đông nam. Bản đồ này chứa trong một túi riêng, được tặng cho Thư viện Quốc hội Mỹ vào năm 1884, và ghi năm xuất bản là 1693. Cách vẽ rõ ràng theo nguyên tắc tây phương, không thể có trước khi Khang Hi yêu cầu giáo sĩ vẽ từ năm 1705. Năm xuất bản ghi 1693 chắc là lầm lẫn. Bản đồ phải được vẽ sau 1717, sau khi Hoàng dư toàn lãm đồ ra đời và có vẻ là bản copy.

2. Đại Thanh nhất thống toàn đồ (大 清一 統全 圖 Da qing yi tong quan tu), hiện đang lưu giữ ở Thư viện Quốc gia Úc[29] mà tác giả bài viết này tìm ra trên mạng và đã đưa cho nhà nghiên cứu Hồ Bạch Thảo nghiên cứu thêm[30]. Bản đồ này, dựa theo phân tích của Cordell D.K Yee (đã nhắc đến ở trên) cũng như bản đồ trong Cổ kim đồ thư tập thành chỉ là bản sao chép của bản đồ chính thức Hoàng Dư toàn lãm đồ nói đến ở trên, không có hai tỉnh Tân cương và Tây Tạng, nhưng được vẽ theo lối kết hợp giữa phương Tây và Trung hoa. Bản đồ này gồm 12 phần riêng, phần 1 là vẽ toàn Trung hoa được in lại ở dưới. Phần 12 về Quảng Đông chấm dứt ở đảo Hải Nam như phần 1. Theo Thư viện Úc được coi là vẽ khoảng 1800 – 1899, nhưng không rõ xuất xứ. Bản đồ này rất giống bản đồ in lại ở Fig 7.8 trong bài của Cordell D.K. Yee. [31] Đại Nam Nhất thống toàn đồ ở Thư viện Quốc gia Úc được in ở dưới.

Đại Thanh nhất thống toàn đồ

3. Hoàng dư toàn đồ (Huangyu Quantu皇輿全圖) là bản đồ chính thức cuối thời nhà Thanh.

Vào năm 1890 chính quyền nhà Thanh muốn chuẩn hóa việc vẽ bản đồ các địa phương và vùng hành chính nên cho lập Hội điển quán (huidianquan會典館)(bureau of institutional studies) và ra lệnh cho vẽ bản đồ địa phương để lập thành bản đồ cả nước theo phương pháp phương Tây nhưng nhiều địa phương chỉ dựa vào bản đồ của các linh mục dòng tên đã vẽ để vẽ lại vì họ không thể hiểu nguyên tắc.[32] Kết quả là Hoàng dư toàn đồ (Huangyu Quantu皇輿全圖 Complete map of the empire, 1899, trong Khâm định đại Thanh hội điển (Qinding Da Qing huidian 欽定大淸會典), gồm 24 bộ (Beijing Huidianguan, 1899) là bản đồ mang tính chính thức vì được Huidianguan in. Phương pháp vẽ không hoàn toàn theo Tây phương mà kết hợp với phương pháp truyền thống của Trung Quốc tức là khoảng cách là đường thẳng chim bay.[33]

Kết luận

Như vậy có thể kết luận là có bản đồ do Khang Hi sai giáo sĩ dòng tên vẽ, tức là Trung Quốc đã từng có một bản đồ chính thức có giá trị trên cơ sở luật pháp quốc tế. Theo bản đồ này cương vực Trung Quỗ chấm dứt ở đảo Hải Nam và không có gì thay đổi sau đó. Điều này cũng phù hợp với chính sử của Trung Quốc thời nhà Minh (Minh Sử) và thời nhà Thanh (Thanh Sử cảo). Hồ Bạch Thảo một nhà nghiên cứu Việt Nam đã xem xét Thanh Sử Cảo và cho thấy rõ rằng Thanh Sử Cảo cũng không đả động đến Hoàng Sa và Trường Sa và cũng cho thấy nước “Tầu” chấm dứt với đảo Hải Nam. [34] [35] Hồ Bạch Thảo cũng xem xét Minh Sử là sử chính thức của nhà Minh, trước nhà Thanh cũng cho thấy là địa dư Trung Quốc chấm dứt ở Hải Nam. Tác giả bài viết này đã tóm tắt cả hai bài viết trên trong một bài viết trước đây. [36]

Bản đồ Trung Quốc có đường chữ U 9-đoạn gãy ra đời vào năm 1947 là do Bai Meichu, một viên chức của Cộng Hòa Dân quốc Trung Hoa (bây giờ là Đài Loan) tự vẽ ra năm 1947.[37] Bản đồ tự chế không phản ánh lịch sử thật sự về cương vực Trung Quốc này đã được nhà nước Trung Quốc sử dụng, ngược với truyền thống Luật quốc tế, để tuyên bố chủ quyền trên khu vực đảo và biển rộng lớn trong đường chữ U, chiếm tới 85% biển Đông Nam Á. Họ đã dùng những tài liệu phi chính thống ghi chép mơ hồ về vùng biển người Hán đã đi qua để cho rằng chúng thuộc về Trung Quốc từ thời nhà Hán (206 BC–220 AD).[38] Điều xác quyết này ngược hoàn toàn với chính sử hai triều đại Minh, Thanh và bản đồ do chính Vua Khang Hi Nhà Thanh ra lệnh biên soạn. Các giáo sĩ dòng Tên đã mất 10 năm mới đo đạc và vẽ xong. Không có Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Đảo Hải Nam, Tỉnh Quảng Đông không phải là điều sơ suất với với công trình 10 năm này. Mãi đến 1909 Trung Quốc, và cũng chỉ là chính quyền Tỉnh Quảng Đông mới gửi người ra tìm hiểu Hoàng Sa và mãi đến năm 1952, Chu Ân Lai của Trung Quốc mới lần đầu tiên yêu sách Trường Sa. Cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc từ thời cổ đại là chuyện bịa, không đúng sự thật.

Tham khảo

1. Laura Hostetler, Global or Local? Exploring Connections between Chinese and European Geographical Knowledge During the Early Modern Period, EASTM 26 (2007): 117-135.

http://www.google.com/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=11&ved=0CDIQFjAAOAo&url=http%3A%2F%2Fwww.eastm.org%2Findex.php%2Fjournal%2Farticle%2Fdownload%2F156%2F144&ei=txnVUKi3B-Sz0QHvkIHgAw&usg=AFQjCNEaIMI8cHQsV_9vVoRvl1s_mCblKQ.

2. Richard J. Smith, Mapping China’s World : Cultural Cartography in Late Imperial Times, http://www.kunstpedia.com/articles/mapping-chinas-world–cultural-cartography-in-late-imperial-times.html?page=1.

3. Cordell D.K. Yee, Chương 7, Traditional Chinese Cartoghraphy and the Myth of Westernization trong The History of Cartography, Volume 2, Book 2, the University of Chicago Press, 1994. http://www.press.uchicago.edu/books/HOC/HOC_V2_B2/Volume2_Book2.html.

4. Roderick M. Barron, China in Maps: Columbus to Kangxi, Colloquium on Information Science:

HKUST Library Series no. 6 – 6 June 2002, Hongkong University of Science and Technology. http://library.ust.hk/info/colloq/jun2002/barron-talk.html

[1] Rachel Lu, A Merkel, a Map, a Message to China?, Foreign Policy, April 1, 2014. http://www.foreignpolicy.com/articles/2014/04/01/merkel_map_message_china

[2] Năm nào 1902 hay 1909? Kiểm tra nhiều tài liệu đáng tin cậy thì thấy năm 1909 là chính xác. Chỉ có 1 nguồn tài liệu cho rằng Lý Chuẩn ra Hoàng Sa năm 1902, đó là từ Marwyn Samuels trong Contest for the South China Sea, New York/London, 1982, tr. 53 cho rằng năm 1902 tầu kiểm tra dưới sự điều khiển của đô đốc Lý Chuẩn (Lichun/lizhun) ra Paracels. Marwyn Samuels lấy nguồn tài liệu từ bài của Yeh Han-ming và Wu Jui-ch’ing đăng trên Min-pao Yeuh’k’am (Ming Pao Monthly 101, May 1974, 9-20). Ba nguồn tài liệu khác cổ hơn cho rằng Lý Chuẩn được gửi ra Hoàng Sa năm 1909 chỉ vì phản ứng với việc Nhật gửi tầu ra đó năm 1907. Nguồn 1): Nhà ngoại giao của Trung Hoa Dân Quốc Shuhsi Hsu trong Japan and the Third Powers, Shuhsi Hsu, Shanghai, Kelly & Walsh, Limited, 1941, p. 574. Nguồn 2): Bà Monique Chemillier-Gendreau, trong Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands, Kluwer Law International, 2000, tr. 99-100 cũng cho rằng chuyến đi là vào năm 1909, có trích tác giả Jian Zhou và tác giả P.A. Lapique. Tác giả Lapique lúc đó sống ở Hồng Kông PA, có viết bài A propos de iles Paracels (đăng trong Extreme-Asie – Revue Indochinoise, năm 1929). Nguồn 3): Theo Phạm Hoàng Quân, trong Nam Hải chư đảo – đảo danh trong thư tịch hiện đại, đăng trong Tạp chí nghiên cứu và phát triển, số 6 (65), 2007, đọc sách Trung Quốc Lý Chuẩn Tuần Hải Ký (李準 巡 海 記) cho thấy Lý Chuẩn ra Hoàng Sa năm Thanh Tuyên Thống nguyên niên (清宣统元年), tức là năm 1909. Trên mạng tiếng Hoa, cũng đã có sự thừa nhận rộng rãi năm 1909 là năm Lý Chuẩn ra Hoàng Sa, như ở đây chẳng hạn: http://blog.sina.com.cn/s/blog_6462fa9a0100hzyy.html

[3] Lê Quí Đôn ghi trong Phủ Biên Tạp Lục (府編雜錄) khoảng giữa 1776-1784.

[4] Đại Nam Thực lục Tiền Biên (大南寔錄先編, Veritable Records of Pre Đại Nam) [70] and Đại Nam Thực Lục Chính Biên (大南寔錄正編, Veritable Records of Đại Nam): Cả hai cuốn xuất bản năm 1848.

[5] Giám mục Jean Louis Taberd viết về việc vua Gia Long cắm cờ Việt Nam tại Hoàng Sa năm 1816 trong bài viết Note on the Geography of Cochin China, dịch ra tiếng Anh và đăng trên Journal of the Asiatic Society of Bengal, số 69, 1837, trang 745.

“The Pracel or Parocels, is a labyrinth of small islands, rocks and sand-banks, which appears to extend up to the 11th degree of north latitude, in the 107th parallel of longitude from Paris. Some navigators have traversed part of these shoals with a boldness more fortunate than prudent, but others have suffered in the attempt. The Cochin Chinese called them Cón uáng [Cách ghi Cát Vàng tức Hoàng Sa vào giai đoạn đầu của chữ Việt]. Although this kind of archipelago presents nothing but rocks and great depths which promises more inconveniences than advantages, the king GIA LONG thought he had increased his dominions by this sorry addition. In 1816, he went with solemnity to plant his flag and take formal possession of these rocks, which it is not likely any body will dispute with him.”

Tác giả cám ơn anh Thái Văn Cầu người có sưu tầm tạp chí hiếm trên và đã giúp tìm trích đoạn trên. Có lẽ đây là lần đầu trích đoạn trên được sử dụng. Chú thích này nằm chỉnh lại sai sót của nhiều tác giả, kể cả người viết này khi trích dẫn đoạn trên dựa vào người khác nhưng không có nguyên tác để tham khảo.

Đoạn viết bằng tiếng Pháp với ý tương tự của Taberd được Adolphe Philibert Dubois de Jancigny trích ra trong Histoire et Description De Tous Les Peuples. Japon, Indo-Chine, Empire Birman (Ou Ava), Siam, Annam (Ou Cochinchine), Peninsule Malaise, Etc., Paris, Firmin Didot Frères, Fils et Cie, 1850, trang. 555.

“Nous n’entrerons pas dans l’énumération des principales iles dépendantes de la Cochinchine; nous ferons seulement observer que depuis de 34 ans l’archipel des Paracels nommé par les Annami-tes Cát Vàng ou Hoàng Sa (sable jaune) véritable labyrinthe de petits ilôts de rocs et de bancs de sable justement redoutés des navigateurs a été occupé pas les Cochinchinois.

“Nous ignorons s’ils y ont fondé un établissement, mais il est certain que l’empereur Gia Long a tenu à ajouter ce singulier fleuron à couronne, car il jugea à propos d’en aller prendre possession en personne, et ce fut en l’année 1816 qu’il y arbore solenellement le drapeau cochinchinois.”

Bà Monique Chemillier-Gendreau cũng nói đến bài viết này trong Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands, op.cit., chú số 40 trang 68 và trang 180.

Ngoài tài liệu trên, Taberd cũng xuất bản Dictionarium Anamitico Latinum,  1838, bởi J. Marshnam, in tại Serampore (Bengale)  và được sao chụp lại trong sách cùng tên, NXB Văn Hòa vàn Trung Tâm Nghiên cứu Quốc học, 2004, Việt Nam. Trong xuất bản phẩm này có bản đồ Annam Đại Quốc Họa Đồ – Tabula Geographica Imperii Ananmitici trong đó An Nam có vẽ thêm đảo Hoàng Sa (Paracels).

[6] Teh-Kuang Chang, “China’s claim of sovereignty over Spratly and Paracel Islands: A historical and legal perspective”, Case Western Reserve Journal of International Law; Summer 91, Vol. 23 Issue 3.

[7] Jian Ming Shen, (1) Territorial aspects of the growth of South China Sea disputes trong sách Security Flashpoints: Oil Island, Sea Access and Military Confrontation do Myron H. Norquist và John Norton Moore chủ biên, The Hague, Boston: Nijhoff, 1988. (2) Cùng tác giả, China’s sovereignty over the South China Islands: a historical perspective, Chinese Journal of International Law, vol. 1, no. 1, 2002.

[8] http://www.fas.org/news/china/2000/china-000600.htm

[9] Có thể coi thêm mục đích và lịch sử vẽ bản đồ của Trung Quốc ở đây: Richard J. Smith, Mapping China’s World : Cultural Cartography in Late Imperial Times, http://www.kunstpedia.com/articles/mapping-chinas-world–cultural-cartography-in-late-imperial-times.html?page=1.

[10] “A claim to sovereignty based upon continued display of authority involves two elements, each of which must be shown to exist: the intention and will to act as sovereign, and some actual exercise or display of such authority.” International Court of Justice, Advisory Opinion concerning Western Sahara, ICJ Reports 1975, p. 43.

[11] Monique Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands, op.cit. trang 50.

[12] 1862 là năm Việt Nam bị bại trận và phải nhường Pháp ba tỉnh Nam Kỳ.

[13] Cordell D.K. Yee, Chương 7, Traditional Chinese Cartoghraphy and the Myth of Westernization trong The History of Cartography, Volume 2, Book 2, the University of Chicago Press, 1994. http://www.press.uchicago.edu/books/HOC/HOC_V2_B2/Volume2_Book2.html

[14] Cordell D.K. Yee, đầu trang 171.

[15] Cordell D.K. Yee, trang 179.

[16] Cordell D.K. Yee, trang 181.

[17] Cordell D.K. Yee, trang 185-186.

[18] http://baike.baidu.com/view/105361.htm

[19] Theo chú thích 37.

[20] King George III’s Topographical Collection, British Library, London.

[21] Thông tin cụ thể trong bài là do Lê Phương làm việc cho Thông Tấn Xã Việt Nam ở London tiếp xúc giúp lấy thông tin cho tác giả, sau khi đã xem xét bản đồ ở Thư viện Anh. Có thể liên lạc với Thư viện Anh để xin phép và mua bản chụp. http://www.bl.uk/reshelp/atyourdesk/imaging/imaginghome.html to place the order and to http://www.bl.uk/reshelp/atyourdesk/permissions/permission.html to obtain permission to reproduce the images supplied by us.

[22] Cordell D.K. Yee, trang 183. Trích từ Qing shi gao jiaozhu清史稿校註, chương 290 (11.8773), ghi chú 35.

[23] Theo wikipedia thì năm hoàn thành là 1725. http://en.wikipedia.org/wiki/Gujin_Tushu_Jicheng.

[24] http://en.wikipedia.org/wiki/Gujin_Tushu_Jicheng.

[25] Bản chụp lại ở đây không cho phép nhìn chi tiết nhưng bản e-map của Thư viện Anh cho phép tập trung (zoom) đi vào chi tiết từng địa điểm có ghi chú địa danh bằng chữ Hán.

[26] http://www.google.com/imgres?imgurl=http://new.astronote.org/data/file/ancient/%EA%B0%95%ED%9D%AC%EC%A0%84%EB%8F%84%280.05%29.jpg&imgrefurl=http://new.astronote.org/bbs/board.php?bo_table%3Dancient%26wr_id%3D24156%26page%3D4&h=958&w=1390&sz=511&tbnid=vPmMLnaXd0wwDM:&tbnh=90&tbnw=131&zoom=1&usg=__paCxK7JJCNHoYmi2cj5HSTdo0H4=&docid=Tu9NzraTExmnqM&hl=en&sa=X&ei=40GkUN-8F4bu0gGgrICwDQ&ved=0CEgQ9QEwBQ&dur=1180

[27] http://www.dpm.org.cn/shtml/117/@/5834.html

[28] http://www.loc.gov/resource/g7821fm.gct00232/#seq-7 . Để coi cho rõ có thể bấm vào đây: http://memory.loc.gov/cgi-bin/image-services/jp2.py?data=/home/www/data/gmd/gmd7m/g7821m/g7821fm/gct00232/ca000007.jp2&res=3

[29] http://www.nla.gov.au/apps/cdview/?pi=nla.map-lms639-s1-v

[30] http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/tiep-noi-chuyen-hoang-sa-va-truong-sa-ra-soat-trong-111ai-thanh-nhat-thong-toan-111o/?searchterm=h%E1%BB%93%20b%E1%BA%A1ch%20th%E1%BA%A3o

[31] Cordell D.K. Yee, trang 183.

[32] Cordell D.K. Yee, trang 195.

[33] Cordell d.K. Yee trang 200.

[34] Hồ Bạch Thảo, Tiếp tục rà soát cái gọi là Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) trongĐẠI THANH NHẤT THỐNG TOÀN ĐỒ, Diễn Đàn. http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/tiep-noi-chuyen-hoang-sa-va-truong-sa-ra-soat-trong-111ai-thanh-nhat-thong-toan-111o/?searchterm=h%E1%BB%93%20b%E1%BA%A1ch%20th%E1%BA%A3o và “Lãnh hải Trung Quốc dưới thời nhà Minh,” Diễn Đàn (an online Vietnamese journal published in France, http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/lanh-hai-trung-quoc-duoi-thoi-nha-minh/?searchterm=h%E1%BB%93%20b%E1%BA%A1ch%20th%E1%BA%A3o

[35] Vũ Quang Việt, Tranh chấp Biển Đông Nam Á: đi tìm giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế, Thời Đại Mới, tháng 7 năm 2010. http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai19/201019_VuQuangViet.htm.

[36] Coi Vũ Quang Việt,op. cit., http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai19/201019_VuQuangViet.htm.

[37] Peter Kien-Hong Yu, The Chinese (Broken) U-shaped line in the South China Sea: Points, Lines and Zones, Current Southeast Asia, vol 25, no. 3, 2003. trang 407. Yu viết: “Rất có thể là anh ta bị thúc đẩy bởi bản năng  chiếm hữu từ đáy lòng như ngạn ngữ đã nói, ý tưởng đã là 9 phần mười của luật). Thật vậy, Bai thấy Pháp chiềm hữu (từ tháng 7 năm 1933 6 đảo ở Nam Sa (Trường Sa hay Spratly) và đã nói hay có thể coi là tự cảm thấy bằng cách nào đấy phải bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc.”

[38] Coi: The Issue of South China Sea, Ministry of Foreign Affairs People’s Republic of China June 2000, trên mạng của Federation of American Scientist: http://www.fas.org/news/china/2000/china-000600.htm.

Tranh chấp Biển Đông Nam Á: đi tìm giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế

Đức tặng Trung Quốc bản đồ cổ không có Hoàng Sa, Trường Sa

18:27 |
Trong chuyến thăm Đức vừa qua, ngày 28.3, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tấm bản đồ Trung Quốc in năm 1735, trên đó biên giới Trung Quốc chỉ tới đảo Hải Nam, theo tạp chí Foreign Policy ngày 1.4.

Thủ tướng Đức và Chủ tịch Trung Quốc xem bản đồ Trung Quốc cổ thế kỷ 18 do Jean-Baptiste Bourguignon d'Anville (Pháp) vẽ, tại Phủ Thủ tướng Đức ở Berlin tối 28.3 - Ảnh: Cơ quan báo chí chính phủ Đức (BPA)


Tấm bản đồ này do nhà bản đồ học người Pháp, ông  Jean-Baptiste Bourguignon d'Anville vẽ, được một nhà xuất bản Đức in năm 1735. Thủ tướng Đức tặng bản đồ cổ này cho Chủ tịch Trung Quốc trong buổi chiêu đãi tối, trong phần trao đổi quà tặng.

Bản đồ của d'Anville dựa trên những khảo sát địa lý của các đoàn truyền giáo Dòng Tên ở Trung Quốc và được xem là "tổng kết hiểu biết của châu Âu về Trung Quốc thế kỷ 18".

Tấm bản đồ này, theo chú thích tiếng Latinh trên đó, chỉ ra một "Trung Quốc đích thực", trong đó khu trung tâm Trung Quốc chủ yếu là người Hán, không có Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ, hay Mãn Châu. Còn hai đảo Đài Loan và Hải Nam được thể hiện bằng biên giới khác màu với biên giới Trung Quốc đích thực.

Dĩ nhiên là hoàn toàn không có Hoàng Sa, Trường Sa trong tấm bản đồ thế kỷ 18 này.

Báo chí Trung Quốc đã không công bố bản đồ d'Anville, mà lại đưa ra bản đồ khác và nói đó là bản đồ bà Merkel tặng (!). Bản đồ này của nhà bản đồ học người Anh tên John Dower, được nhà xuất bản Henry Teesdale & Co. in ở London năm 1844, trong đó bao gồm Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ và một phần lớn Siberia.

Tấm bản đồ Trung Quốc cổ, của nhà bản đồ học người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon d'Anville vẽ, được một nhà xuất bản Đức in năm 1735 - Ảnh: FP



Tuy nhiên trên các mạng xã hội Trung Quốc lại có thông tin về cả hai bản đồ này. Với bản đồ d'Anville, cư dân mạng Trung Quốc giận dữ với món quà bà Merkel tặng, cho rằng đó là "món quà vụng về", hoặc "Đức chắc có động cơ thầm kín", hay đi xa hơn là cáo buộc bà Merkel muốn hợp pháp hóa các phong trào đòi độc lập của Tây Tạng, Tân Cương v.v.

Còn bản đồ Dower trái lại được đón chào hơn, và có người còn tự hào về lãnh thổ cũng như quyền lực to lớn của đế quốc Trung Hoa trước đây.

Chính tài liệu lịch sử Trung Quốc đã bác bỏ đường 9 đoạn

18:21 |

Bài văn tế khao lề thế lính Trường Sa chứng minh từ triều Nguyễn,
   


- Báo chí thế giới gần đây đã đăng tải bài viết nói về quan điểm của ông Tiết Lý Thái, cựu chủ biên tờ Minh Báo, hiện đang là nghiên cứu viên Trung tâm An ninh và hợp tác quốc tế Đại học Stanford (Mỹ), cũng là người giữ chuyên mục “Tiết Lý Thái tung luận xuân thu” (Tiết Lý Thái bàn về thời cuộc) trên Đài truyền hình Phượng Hoàng (Hongkong). Mặc dù là người theo quan điểm của Bắc Kinh, ông Tiết cũng buộc phải thẳng thắn nhìn nhận: “Việc Trung Quốc giải thích về đường 9 đoạn như là đường quốc giới trên biển của mình, muốn được cộng đồng quốc tế công nhận, thật không dễ”.


Nhận diện ý đồ độc chiếm Biển Đông

 Đến bây giờ sau khi công bố những bản đồ do chính các chính phủ tiền nhiệm trước Trung Hoa dân quốc cho thấy lãnh thổ Trung Quốc đến đầu thế kỷ 20 không bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc chỉ còn cách trông chờ vào đường 9 đoạn, coi đó là chứng cứ pháp lý để bấu víu vào. Tiếc thay, cái sự tích đường 9 đoạn này do chính Trung Quốc đưa ra lại chẳng có một chút thuyết phục nào. Để làm rõ hơn vấn đề này, cũng từ chính các tài liệu của Trung Quốc chúng ta thử tìm hiểu nguồn gốc của đường 9 đoạn hay đường lưỡi bò, đường chữ U, để thấy rõ thái độ ăn không nói có, thấy rõ mưu đồ cũng như bộc lộ rõ bản chất bành trướng của Trung Quốc hòng độc chiếm Biển Đông.

 Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ xuất hiện trong các địa đồ hay thư tịch của Trung Quốc cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Các bản đồ đời nhà Thanh ấn hành từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 đều khẳng định điểm cực nam của Trung Quốc chỉ dừng ở phủ Quỳnh Châu tại vĩ tuyến 18,13 độ vĩ bắc. Trong khi quần đảo Hoàng Sa nằm ở vĩ tuyến 17,15 độ vĩ bắc và quần đảo Trường Sa ở từ vĩ tuyến 12 đến 8 độ vĩ bắc. Cũng cần phải khẳng định một điều: Cho đến năm 1945, cái gọi là “đường lưỡi bò” (hay đường chữ U, đường chín đoạn như ngày nay) chưa hề xuất hiện trong bất cứ tấm bản đồ nào. Vậy nó ra đời lúc nào?

 Có thể thấy lịch sử của ý đồ xâm phạm chủ quyền các nước trong khu vực Biển Đông bắt đầu từ năm 1909. Tại thời điểm đó Việt Nam đã thực hiện quyền quản lý trên thực địa từ nhiều thế kỷ trước hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Nhưng phải đến năm 1917, lần đầu tiên trên tấm bản đồ là Trung Hoa Dân quốc tân khu vực đồ (1917) quy nạp quần đảo Hoàng Sa bằng cách vẽ thêm một khung vuông phụ trong bản đồ toàn quốc.

 Tuy nhiên, bản đồ trên không có quần đảo Trường Sa. Tiếp đến, quần đảo Hoàng Sa tiếp tục bị Trung Quốc ngang nhiên thể hiện là điểm cực nam của nước này trong Trung Quốc địa lý các duyên đồ (1922), Trung Quốc tân hình thế đồ (1922) và Trung Hoa triết loại phân tỉnh đồ (1931), Trung Hoa dân quốc tân địa đồ (1934). Chưa dừng lại ở đó, Trung Hoa Dân quốc tiếp tục hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam bằng cách vẽ ra đường 11 đoạn ôm trọn biển Đông.

 Điều này được thể hiện trong phụ đồ "Vị trí các đảo Nam Hải" của "Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa dân quốc" (1948). Đến năm 1953, Bắc Kinh tạo ra một biến thể quái thai khác từ bản đồ trên để vẽ nên đường 9 đoạn (còn gọi là đường lưỡi bò) rồi ngang nhiên tuyên bố chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam. Sự thay đổi phi lý trong các bản đồ trên là bằng chứng chỉ ra quá trình Trung Quốc biến không thành có để thâu tóm các đảo trên biển Đông của Việt Nam. Ý đồ chiếm đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc cũng được nhiều nhà nghiên cứu, các nhà phân tích trên thế giới đã có bằng chứng chỉ ra là hoàn toàn do Trung Quốc vẽ thêm vào các bản đồ của nước mình từ khi Trung Quốc có ý định xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Điều đó chẳng khác nào kẻ ăn vụng nhưng không biết… chùi mép.

Chủ quyền đã xác định

 Trên thực tế, ngay từ thế kỷ 17, các nhà nước Việt Nam đã thực sự quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hàng năm các nhà nước phong kiến Việt Nam vẫn cử những đoàn thuyền tuần tra và thu những nguồn lợi từ hai quần đảo này. Trong lúc các bản đồ và tài liệu địa chí Trung Hoa còn chưa đề cập đến hai quần đảo này thì các bản đồ và sách địa chí của Việt Nam đã mô tả tỉ mỉ cả về vị trí và những điều kiện thủy văn và nguồn lợi.

 Sau này, khi nhận thấy âm mưu xâm chiếm của Trung Quốc và sự manh nha xuất hiện của người Nhật trên tuyến đường biển quan trọng “nối liền giữa Hong kong và Sài Gòn”, liên tiếp từ năm 1925-1930 Pháp (lúc đó đại diện cho quyền lợi của Việt Nam) đã có những động thái khẳng định chủ quyền không chỉ ở Hoàng Sa mà còn cả ở Trường Sa. Trước hết, đầu tháng 3-1925 toàn quyền Đông Dương Pasquier đã ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ của Pháp (tức thuộc về An Nam đang là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ).

 Tiếp đến ngày 13-4-1930, Pháp đã cho tàu La Malicieuse ra Trường Sa để treo quốc kỳ Pháp. Mười ngày sau đó, Chính phủ Pháp đã tuyên bố thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Trước đó ngày 20-3-1930, toàn quyền Đông Dương đã yêu cầu Bộ thuộc địa Pháp “Cần thừa nhận lợi ích của nước Pháp ẩn chứa trong việc thay mặt An Nam thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa”. Sau đó năm 1938-1939, theo Nghị định số 3282 do toàn quyền Đông Dương Brievie ký, Pháp đã triển khai quân binh đến đảo Hoàng Sa xây dựng trạm hải đăng, trạm vô tuyến TFS và trạm khí tượng, song song đó cũng xây dựng thêm một trạm khí tượng khác trên đảo Phú Lâm.

 Tại cực nam biển Đông, tháng 3-1933, Pháp đã điều bốn tàu Lamalicieuse, tàu chiến Alerte, hai tàu thủy văn Astrobale và De Lanessan đến Trường Sa. Sau khi đổ bộ lên các đảo ở đây, người Pháp ngay lập tức soạn thảo một văn bản, sau đó thảo ra 11 bản và thuyền trưởng của các tàu cùng bút ký. Sau đó, các văn bản này được đóng kín trong một cái chai rồi đem đến mỗi đảo ở Trường Sa gắn chặt vào một trụ ximăng xây cố định thêm một lần nữa xác định chủ quyền ở đảo Trường Sa.

 Trước đó, trong bản ghi chú gửi cho Vụ châu Á đại dương, Bộ Ngoại giao Pháp đã viết: “Việc chiếm đóng quần đảo Trường Sa (Spratley) mà Pháp thực hiện trong hai năm 1931-1932 là nhân danh hoàng đế An Nam”. Đến năm 1938, Pháp tiếp tục cho xây dựng bia chủ quyền, hải đăng, trạm khí tượng thủy văn và một trạm vô tuyến trên đảo Ba Bình (Itu-Aba). Như vậy, tính từ năm 1930-1938, chính quyền thực dân Pháp đã nhân danh An Nam (Việt Nam lúc bấy giờ) xác lập chủ quyền rõ ràng ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhố nhăng đường 9 đoạn

 Những diễn biến dồn dập xảy ra trong hai năm 1946-1947 trực tiếp đẩy nhanh các kế hoạch xâm chiếm hai quần đảo quan trọng của Việt Nam trên Biển Đông. Sau khi Nhật đầu hàng quân đồng minh, tháng 2-1946, Quốc dân đảng đã ký với Pháp hiệp ước Trùng Khánh chấm dứt vai trò giải giáp quân Nhật tại Đông Dương. Cuối năm 1946, quân đội Trung Hoa dân quốc đưa bốn tàu chiến do tướng Lâm Tuân dẫn đầu xuôi biển Đông để đến Hoàng Sa và Trường Sa, mà theo luận điệu hết sức vô lý là “giải giáp tàn quân Nhật”, dù thời gian giải giáp đã hết từ lâu.

 Tư liệu do tuần báo Phượng Hoàng (Hong kong) trong cuộc gặp gỡ những người liên quan đến chuyến đi của Lâm Tuân đang sống ở Đài Loan lại cho biết người vẽ bản đồ “11 đoạn” không phải Lâm Tuân mà chính là giám đốc Sở Phương vực Phó Giác Kim. Ông này đã căn cứ trên những tư liệu sơ sài của Lâm Tuân, Trịnh Tư Duyệt và Tào Hi Mãnh để vẽ bản đồ trên.

 Trong cuộc họp ngày 14-4-1947, Bộ Nội chính Trung Hoa dân quốc đã triệu tập hội nghị xác định phạm vi và chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hội nghị quyết định lấy vĩ tuyến 4 độ vĩ bắc, với chót điểm là bãi đá ngầm James ở gần Malaysia làm cực nam của bản đồ “đường 11 đoạn”. Đây chính là tiền thân của “đường lưỡi bò” ngày nay, cái mà Trung Quốc gọi là “đường chữ U” hay “đường 9 đoạn”. Đến đầu năm 1949, chính quyền Quốc dân Đảng dần rút khỏi Trung Quốc và tháo chạy về Đài Loan, những tưởng đường 11 đoạn đã tiêu tùng. Tuy nhiên, lòng tham và mưu đồ “liếm” trọn biển Đông đã được “kế thừa”.

 Theo Thời báo Hoàn Cầu, sau khi đuổi Quốc dân Đảng ra khỏi đại lục, năm 1953 Chính phủ CHND Trung Hoa đã phê duyệt cắt bỏ hai đoạn ở vịnh Bắc bộ của Việt Nam để biến “đường 11 đoạn” thành “đường 9 đoạn” nhưng không nêu rõ lý do. “Đường 9 đoạn” này cơ bản giống với “đường 11 đoạn” của Trung Hoa dân quốc, chỉ có điều là nó tham lam hơn, “liếm” sát Việt Nam, Malaysia và Philippines hơn.

 Tờ báo này thừa nhận Chính phủ Trung Quốc từ trước tới nay chưa hề “giải thích” hay nói rõ cho cộng đồng quốc tế về sự tồn tại của “đường 9 đoạn”. Điều này đồng nghĩa với việc Bắc Kinh đã thừa nhận tính vô pháp lý của cái gọi là “đường lưỡi bò” trên trường quốc tế. Thế mà giờ đây họ cứ đem cái “sản phẩm tượng trưng” này ra để làm bằng chứng “thuyết phục” về yêu sách chủ quyền vô lý của họ ở biển Đông.

 Như vậy căn cứ pháp lý cuối cùng mà Trung Quốc viện dẫn của đường 9 đoạn đã bị thực tế và chính những tài liệu của họ bác bỏ. Chỉ còn bộ mặt thật của những kẻ âm mưu bành trướng dùng mọi thủ đoạn từ lừa dối đến trắng trợn để chiếm đoạt lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng cũng chính lịch sử hàng nghìn năm qua đã khẳng định: Không có kẻ thù nào có thể khuất phục được dân tộc Việt Nam anh hùng.
Mỹ có lợi ích quốc gia trong khu vực biển Đông

 Sáng 3-8, Thượng viện Mỹ đã chính thức thông qua Nghị quyết về tình hình Biển Đông nhằm thể hiện phản ứng trước những động thái mới đây của Trung Quốc.

 Thượng nghị sĩ John Kerry đã cùng một số thượng nghị sĩ Mỹ khác giới thiệu Nghị quyết này lên Thượng viện. "Không còn nghi ngờ gì về việc Mỹ đã cam kết đảm bảo sự hiện diện lâu dài và thúc đẩy các mối quan hệ đối tác trong khu vực. Chúng tôi có một lợi ích rõ ràng trong an toàn và hành xử hợp pháp của tất cả mọi người trong hoạt động hàng hải chung của châu Á. Chúng tôi có lợi ích to lớn trong giải pháp hòa bình cho tất cả các vấn đề ở Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế và thông qua tiến trình ngoại giao đa phương", ông Kerry khẳng định. "Chúng tôi có những mối quan tâm lớn về tự do hàng hải và tự do thương mại. Đó là những nguyên tắc mà tất cả các nước trong khu vực nên ủng hộ".

 Liên quan tới các hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, ngày 3-8 Bộ Ngoại giao Mỹ đã ra tuyên bố, bày tỏ sự quan ngại đối với việc Trung Quốc thành lập bộ máy chính quyền và triển khai quân đồn trú thuộc cái gọi là "thành phố Tam Sa" trên đảo Phú Lâm của Việt Nam - "Việc Trung Quốc nâng cấp hành chính với “Tam Sa” và thiết lập đơn vị đồn trú mới ở Biển Đông đã đi ngược lại những nỗ lực ngoại giao hợp tác để giải quyết các bất đồng và gây ra nguy cơ leo thang căng thẳng trong khu vực”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Patrick Ventrell nói.

 Trong diễn biến khác, Lầu Năm Góc đang lập ra những kế hoạch mới để chuẩn bị cho một cuộc chiến trên không và trên biển ở châu Á, trong nỗ lực thực hiện chiến lược “trục xoay” châu Á - Thái Bình Dương mà chính quyền của Tổng thống Obama công bố đầu năm nay.


(theo ANTĐ)

Báo Nga khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa

01:06 |


Ngày 1.6, tờ Gazeta.ru, một trong 3 báo điện tử tư nhân lớn nhất ở Nga với lượng truy cập trung bình 3 triệu lượt/ngày, có bài viết: “Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận” của nhà báo Vladimir Koryagin.


Tác giả đã đưa ra một số chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, bác bỏ yêu sách chủ quyền phi căn cứ của Trung Quốc và cung cấp cho đọc giả thông tin khái quát về diễn biến tranh chấp xung quanh quần đảo này. PV TTXVN tại Liên bang Nga giới thiệu nội dung bài viết:

400 năm không có Trung Quốc

Trong thế kỷ 20, Biển Đông trở thành một trong những điểm nóng tiềm tàng mà xung đột có thể dẫn đến chiến tranh thế giới thứ ba. Tuy nhiên lịch sử xung đột xung quanh các vùng lãnh thổ tranh chấp nằm trên Biển Đông đã có lịch sử ít nhất vài thế kỷ. Về cơ bản, các nước trong diện tranh chấp đều đưa ra các bản đồ cổ làm bằng chứng nhằm khẳng định chủ quyền đối với một hoặc một vài hòn đảo.

Quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trường Sa lần đầu tiên được nhắc đến vào thế kỷ thứ 17 trong “Tuyển tập bản đồ chỉ dẫn các con đường dẫn xuống đất phía Nam” của Việt Nam dưới tên có nghĩa là “Cát vàng."

Theo các tài liệu lịch sử, vào năm 1721 Việt Nam đã thành lập Cơ quan hành chính “Hoàng Sa” (Hoàng Sa là tên gọi bằng tiếng Việt của Paracel) nhằm khai thác tập trung các hòn đảo ở biển Đông, cũng như trang bị các tàu để tiến ra các đảo này.

Trong khi đó, trong các tàng thư và tài liệu của Trung Quốc thời đó, kể cả trong “Đại sử ký nhà Thanh” đều không nhắc đến hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Hoàng Sa cũng chỉ được một số ít các nhà đi biển người Pháp và Hà Lan nhắc đến, những người may mắn vượt qua Biển Đông thành công và đến được Việt Nam. Họ cũng viết rằng chính người Việt Nam đã thu được một số lượng lớn súng đạn và các đồ vật có giá trị khác từ những con tàu bị đắm khi đi qua các quần đảo này. Người Việt Nam thậm chí còn xây dựng một hạm đội quy mô nhỏ nhằm kiểm soát các tàu của nước ngoài đánh bắt cá tại khu vực quần đảo Hoàng Sa.

Đến đầu thế kỷ 19, vua Gia Long, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn và cũng là vị vua đầu tiên của Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong thời gian này nhiều bản đồ các loại đã được xuất bản, trong đó Hoàng Sa được biểu thị là lãnh thổ của Việt Nam.


Ảnh chụp từ trang web

Năm 1838 nhà truyền giáo Công giáo Pháp Joan-Luis-Taberu đã xuất bản cuốn "Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (tạm dịch là cuốn từ điển tiếng Việt-Latinh). Trong đó quần đảo Hoàng Sa được định nghĩa là "Paracel seu Cát vàng." Tiếp sau đó, nhà địa lý Hà Lan Villem Blau chính thức đặt tên cho đảo này bằng tiếng châu Âu là “Pracel.” Về sau này do sự mai một của thời gian và các nhà đi biển người Pháp truyền khẩu không chính xác nên “Pracel” đã bị gọi trệch đi thành “Le Paracel.”

Cuối thế kỷ 19 tại khu vực quần đảo Hoàng Sa có 2 tàu chở đồng của Anh bị đắm. Người dân đảo Hải Nam của Trung Quốc trục vớt được và chiếm giữ hàng hoá trên tàu khiến chính quyền Anh hết sức bất bình. Khi đó Trung Quốc trả lời chính quyền Anh rằng quần đảo Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc, vì vậy chính quyền nước này không chịu trách nhiệm trước bất cứ sự việc gì xảy ra ở đây.

Bành trướng trỗi dậy

Hiện trạng ở quần đảo Hoàng Sa lẽ ra được giữ nguyên dưới thời Pháp thuộc nếu như không có sự đối đầu Anh-Pháp và kéo theo sự ủng hộ tương ứng của Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1933 cuốn “Bản đồ quản lý hành chính mới của Trung Quốc” ra đời, trên đó Trường Sa và Hoàng Sa được người Trung Quốc gọi theo tiếng Hán là “Nam Sa và Tây Sa” trực thuộc quản lý hành chính của tỉnh Quảng Đông.

Dưới tác động của bối cảnh mới này chính quyền đô hộ Pháp đã áp dụng một số biện pháp: Khâm sứ Pháp tại Đông Dương Jules Brevie đã ra lệnh thành lập cơ quan hành chính quản lý quần đảo Hoàng Sa và cho dựng trên quần đảo một tấm bia có dòng chữ “Cộng hòa Pháp-Vương quốc Annam - quần đảo Hoàng Sa, 1816." Cũng trong khoảng thời gian đó, Nhật tích cực hoạt động, đánh chiếm đầu tiên là Trường Sa sau đó là Hoàng Sa vào đầu thế chiến thứ hai.

Năm 1946, người Pháp và Việt Nam tiến ra quần đảo Hoàng Sa để giải giáp quân Nhật đang đồn trú tại đây, tuy nhiên bị quân đội Trung Quốc ngăn cản. Trong vòng 1 ngày, Quân đội Trung Quốc đã củng cố vững chắc lực lượng trên quần đảo và năm 1947 Tưởng Giới Thạch ban bố một quyết định, theo đó Trường Sa và Hoàng Sa chính thức mang tên gọi của Trung Quốc và thuộc thành phần lãnh thổ Trung Quốc. Lúc đó Bắc Kinh phớt lờ sự phản đối từ phía chính phủ Việt Nam và Pháp.

Khi Tưởng Giới Thạch và thân cận trong Quốc Dân Đảng bỏ chạy sang Đài Loan thì toàn bộ các đơn vị đồn trú trên quần đảo Hoàng Sa cũng rút theo. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông lên nắm quyền tiếp tục tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này. Cùng thời điểm này Nhật Bản chính thức tuyên bố từ bỏ quyền và yêu sách đối với cả 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Điều này được ghi nhận trong Hiệp ước hoà bình San-Francisco 1951.

Năm 1956 Viễn chinh Pháp rút hoàn toàn khỏi lãnh thổ Việt nam và kể từ thời điểm này Việt Nam, vốn bị chia cắt làm 2 miền phải độc lập chống lại chính sách bành trướng của Trung Quốc. Cũng trong năm 1956 Trung Quốc đánh chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa còn Việt Nam chiếm giữ một phần, nơi trước đây quân đội Pháp kiểm soát.

Sự căng thẳng tình hình tiếp theo xảy ra vào năm 1959, khi Trung Quốc đưa 80 lính và vật liệu xây dựng lên quần đảo xây nhà kiên cố và sau đó dựng cờ Trung Quốc. Các đơn vị biên phòng miền Nam Việt Nam ngay lập tức có mặt tại các hòn đảo và bắt giữ toàn bộ người trên đó. Bắc Kinh chỉ thể hiện sự phẫn nộ bằng cách ra công hàm phản đối ở cấp Bộ Ngoại giao vì lo ngại phải chạm trán với quân đội Mỹ đến giúp đỡ chính quyền miền Nam Việt Nam.

Năm 1964 Mỹ đẩy mạnh can thiệp vào Việt Nam bằng cách hậu thuẫn chính quyền miền Nam.

Trung Quốc đã không thể lợi dụng sự thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam vào mục đích của mình và từ năm 1971 bắt đầu bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Việc này cho phép Trung Quốc hợp pháp hoá yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Năm 1974 Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ các hòn đảo. Thời điểm đó Mỹ đang bận chuẩn bị ký Hiệp định hoà bình với Việt Nam, đồng thời rút toàn bộ quân ra khỏi các vùng cứ điểm ở miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, chính quyền miền Bắc Việt Nam cũng đang tập trung toàn bộ lực lượng để tiến hành chiến dịch lịch sử giải phóng Sài Gòn.

Trung Quốc đánh chiếm được Hoàng Sa một mặt do chính quyền miền Nam Việt Nam không còn nhận được sự hẫu thuẫn của Mỹ nên rất yếu và Mỹ-Trung không còn là đối thủ của nhau. Mặt khác chính quyền miền Bắc Việt Nam còn đang lo nhiệm vụ thống nhất đất nước nên chưa thể nêu yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Như vậy, việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa được xem như sự đã rồi, để từ đây Trung Quốc bắt đầu hướng bành trướng xuống quần đảo Trường Sa.

Theo TTXVN
Được tạo bởi Blogger.

Biển Đông News

Template Information